Trần Khải Thanh Thuỷ
“… phần còn lại trong lần "khai quật" này thật sự chỉ toàn là vàng giả, bạc vụn và "con ranh, con lộn" mà thôi… Cuối cùng chỉ còn đúng bốn bài đích thực. …”
Lời giáo đầu: Tình cờ lục tìm trong thư viện Hà Nội, tôi "túm" được cuốn sách của giáo sư Nhan Bảo- một nhà Việt Nam học ở Trung Quốc- nhan đề: Phát hiện mới về Hồ Xuân Hương - do Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành.
Vốn yêu mến Xuân Hương, biết rõ cuộc đời, thân thế và sự nghiệp của bà còn nhiều tranh cãi, còn vô vàn những khe trống, kẽ hở mà các nhà nghiên cứu văn học, các nhà văn, nhà thơ, độc giả, dịch giả trong và ngoài nước vẫn không tài nào xác định được, tôi liền ôm về, mừng hơn bắt được vàng. Tưởng đâu như kho báu của Hồ Xuân Hương (giống mộ Tần Thủy Hoàng) bao lâu ngủ yên trong lòng đất, bỗng được người đời phát hiện, "khai quật" lại. Thoạt đầu là phần nhỏ, hàng chục năm sau là phần còn lại, trị giá gấp nhiều lần so với trước. Lâu nay trên 50 bài thơ nôm truyền tụng của bà đã công bố quả là quá ít ỏi, thiếu thốn trong sự thờ phụng, thèm khát của người đời. Càng ít hơn so với số 213 bài của giáo sư Nhan Bảo tìm được. Bao gồm năm tập: Xuân Hương di cảo, Xuân Hương thi tập, Hồ Xuân Hương thi tập (trong Đại nam đối thi), Đối nam thi tập và Đại nam đối liễn thi tập. Quả là một kho vàng lí tưởng.
Song than ôi, bằng con mắt biện chứng, khách quan và tỉnh táo, tôi phải thừa nhận rằng: Phần nổi trội, lấp lánh ánh vàng- làm nên hiện tượng Hồ Xuân Hương- gây sự tranh cãi liên tục, kéo dài, không ngừng nghỉ, đã bị bóc hết rồi. Yếu tố thần, tiên, ma quỷ, sự chênh vênh, vui hóm, lời lẽ oái oăm, bất cẩn, thói lộng ngữ, ngoa ngôn, sự mách qué trong thơ Xuân Hương khiến ai cũng giật mình thán phục, đã "phát lộ" và lưu truyền ra ngoài đời gần hết rồi, phần còn lại trong lần "khai quật" này thật sự chỉ toàn là vàng giả, bạc vụn và "con ranh, con lộn" mà thôi. Cũng như thơ "bút tre" vậy. Bút Tre thật chỉ có một, còn Bút Tre giả có cả trăm, cả ngàn. Vì vậy tính số lượng là 213 bài, song trừ số bài trùng lặp từ tập đầu (Xuân Hương di cảo) đến tập cuối (Đại Nam đối liễn thi tập) tất cả còn 90 bài. Ngoài 38 bài nằm trong mảng thơ Nôm truyền tụng đã công bố từ hơn 100 năm nay, còn 52 bài hoàn toàn mới. Đáng tiếc, ngay cả những bài này- sau khi kiểm định về chất lượng, ngôn từ, những khác biệt về nội dung văn phong, ý tứ, qua sự sàng lọc, đối chiếu, so sánh với mảng thơ Nôm truyền tụng trước đó của bà, tôi buộc phải gạt hết chất độn, cỏ giả ra.
Cuối cùng chỉ còn đúng bốn bài đích thực. Ví dụ "Vịnh bãi Bình Than", "Cờ đuôi nheo", "Cái váy", "Qua cửa đó"... Điều này chứng tỏ thơ Hồ Xuân Hương còn bị thất lạc, tản mát, và phần 4 bài chính thức trong số 213 bài mới "khai quật" lần này, chỉ là một sự "sót lại" thôi. Tuy "sót" song thực sự đáng quý, bởi nó chính là 4 thỏi vàng thực sự giữa đám bạc vụn và vàng giả mà những người yêu quý Xuân Hương làm. Hoặc bắt chước phong cách thơ bà khi vịnh về sư, sãi, chùa phật, hay họa lại một số bài thơ truyền tụng nổi tiếng của bà...
Xin giới thiệu để mọi người cùng đọc. Rất mong các bậc đàn anh, các lão làng, độc giả yêu quý Xuân Hương chỉ giáo.
Trần Khải Thanh Thuỷ
1. Cờ đuôi nheo
Em như chéo khố lấy đâu vuông
Quân tử sao nay lại rẫy ruồng
Cuốn mở mặc dầu khi gió hứng
Dập dình sau trước trống cùng chuông
Cả bài vẻn vẹn bốn câu, song chất trào phúng, trữ tình của bà bộc lộ rõ nét hơn bao giờ hết.
Câu đầu: Tả hình dạng cờ đuôi nheo, cũng là phác họa thân phận cô gái. Ở đây, ta bắt gặp thủ pháp ẩn dụ quen thuộc của bà, luôn náu mình vào một vật tầm thường, cụ thể nào đó để so sánh.
Như: Thân em như quả mít trên cây (Quả mít)
Hay: Thân em vừa trắng lại vừa tròn (Bánh trôi)
Hoặc: Của em bưng bít vẫn bùi ngùi (Trống thủng)
Còn ở bài này, bà tự náu mình vào chiếc cờ đuôi nheo để vịnh: Em như chéo khố lấy đâu vuông.
Từ chéo khố là hình dạng của cờ đuôi nheo, có ba góc hình tam giác, bằng một nửa của hình chữ nhật hoặc hình vuông, cũng là hình ảnh quen thuộc mà ta bắt gặp trong thơ bà khi vịnh quạt:
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Tương tự như các bài bà mượn cảnh, mượn việc để nói về người, về mình, cũng như thân phận phụ nữ nói chung.
Câu 2, bà tiếp tục miêu tả tính chất đặc điểm của các thứ quả, cây, hoặc con vật mà mình mượn vỏ để náu hồn vào.
Với "Quả mít" thì: Vỏ nó xù xì múi nó dày
Với "Bánh trôi" lại : Ba chìm bảy nổi với nước non
Với "ốc nhồi" là: Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi
Với "Trống thủng" là: Nó thủng bởi chưng kẻ nặng dùi
Còn ở đây, bà đưa ta vào một không gian khép kín, để nói rõ về thân phận, nỗi buồn cũng như tâm trạng của cô gái: Quân tử sao nay lại rẫy ruồng?
Hai từ quân tử chỉ người và rẫy ruồng chỉ tình cảm, tính chất, mức độ của sự việc, cùng từ chéo khố ở câu trên, giúp ta liên tưởng tới cảnh buồng the của cặp vợ chồng trẻ. Có điều, khác với tính chất cực tả của một loạt bài Vịnh quạt, Trống thủng, Dệt cửi, Đánh đu... đều nhằm vào chuyện riêng của vợ chồng, khi tình yêu dần hoá thân vào các động tác, thì tình cảm của cặp vợ chồng này buồn hơn bao giờ hết. Không phải:
Càng nóng bao nhiêu thời càng mát
Yêu đêm không phỉ lại yêu ngày
Hoặc:
Ngày vắng đập tung năm bảy chiếc
Đêm thanh tỏm cắc một đôi hồi
Mà là sự lạnh nhạt, ruồng rẫy theo kiểu:
Mây mưa đánh đổ đá vàng
Quá chiều nên đã chán chường yến oanh
như Nguyễn Du miêu tả trong Kiều.
Người con gái, tức Cờ đuôi nheo trong bài, dù ý thức đầy đủ thân phận trời cho của mình, chỉ như chéo khố chứ không phải vuông tròn, lành lặn, hoặc ngắn, dài, to, nhỏ, cao thấp như những bộ phận cao sang, quý phái khác trên cơ thể con người. Song dù có khiếm khuyết về hình dạng cấu tạo bẩm sinh, thì thâm tâm vẫn tràn đầy một sinh lực, một nguồn sống đã đầy, một tâm trạng căng thẳng, hồi hộp, khát khao đón nhận tình yêu của người bạn chăn gối, trăm năm. Tiếc thay chàng quân tử không những không vỗ về, âu yếm còn lạnh nhạt, rẫy ruồng, vì đầu óc tâm trí đã hướng tới một cô gái khác, một chéo khố khác, một cờ đuôi nheo khác. Chính vì thế mà nàng mới thốt lên: Quân tử sao nay lại rẫy ruồng.
Chữ nay là nút thắt, là chìa khoá của toàn bài. Xét về bối cảnh thời gian, hiện tại luôn đan cài cùng quá khứ. Đã có hôm nay, hẳn phải có ngày xưa. Hôm nay chàng lạnh nhạt, rẫy ruồng em, thì trước đó, chàng đã từng đối xử với em như thế nào? Ngược lại thời gian bằng cách đọc nốt hai câu cuối, ta bắt gặp ngay câu trả lời:
Cuốn mở mặc dầu khi gió hứng
Rập rình sau trước trống cùng chuông.
Ở câu ba, ngoài nghĩa phô là cờ đuôi nheo có lúc mở ra tung bay phần phật khi có gió thổi tới, hoặc cuộn lại ủ rũ khi gió tắt, còn có nghĩa ngầm là hoạt động tính giao của đôi trẻ luôn tùy hứng, thất thường. Chữ mở và chữ hứng ở câu này khiến ta liên tưởng tới cái nghĩa ngầm mà bà luôn nói tới trong hầu hết các bài. Thoạt đầu là chữ mở - một trong những thuật ngữ tình ái trong Kinh Dịch như nam động thì thẳng, nữ động thì mở. Chữ hứng ngoài nghĩa phô là hứng gió, hứng trăng còn có nghĩa ẩn là hứng tình. Tình yêu khi đã ở mức cao hứng cũng bao hàm nghĩa trên. Hiểu nôm na dân dã: Khi đã hứng lên thì chàng mở toang chéo khố ra mà ôm ấp, nâng niu, chằm bặp, vỗ về che chở, hưởng thụ theo kiểu:
Khi giang thẳng cánh bù khi cúi
Chiến đứng không thôi lại chiến ngồi.
Ngược lại, khi đã hết hứng, hết động vì gió đã tắt rồi thì thân phận Cờ đuôi nheo cũng như Trống thủng sau lúc bị "kẻ nặng dùi" đâm, bị cuộn lại vứt lăn lóc nơi xó buồng lạnh lẽo.
Ngoài hai nghĩa ngầm và nghĩa phô như ta vừa thấy, ở câu ba này còn hàm ý tố cáo sự bất công của xã hội đối với thân phận người phụ nữ lúc đó. Chẳng những không bình quyền, bình đẳng với chồng trên cương vị xã hội mà cả trong phòng the cũng vậy. Chỉ là cuốn mở mặc dầu khi gió hứng, hoàn toàn do đàn ông chủ động, tùy hứng, dẫn dắt, phục vụ cho khoái cảm ích kỉ nhất thời của họ, chứ không phải được hòa trộn yêu thương khao khát, theo lẽ công bằng của vũ trụ, luật âm dương của trời đất.
Đọc đến đây, rõ ràng tuy bà không nói ra, song ta thấy câu ba này thật giống với lời nhắn nhủ ở hai câu kết trong bài "Trống thủng":
Nhắn nhủ ai thương lấy với
Thịt da ai cũng thế mà thôi.
Đã là thịt da- ai cũng thế mà thôi, cùng thân phận Cờ đuôi nheo, chéo khố, sao anh còn nặng lòng suy tính. Lúc coi em như đệm thịt, giá đỡ, nhằm giải tỏa cho tâm trạng ngột ngạt, dâm cuồng, thú tính của anh, lúc lại đem lòng so sánh với một cô gái khác để lạnh nhạt ruồng rẫy...mong anh hãy đối xử nồng nhiệt, bình đẳng với em cả trong ngày cưới cũng như trong suốt cả cuộc đời dâu bể anh ơi. Đừng chạnh lòng tơ tưởng tới một chéo khố- tức Cờ đuôi nheo bất kỳ nào nữa.
Ý nghĩa trào phúng tinh nghịch cùng ý tưởng bất ngờ nhất của bài thơ càng được bộc lộ rõ hơn, khi ta giải mã nốt câu cuối:
Rập rình theo trước trống cùng chuông.
Lắng lòng mình lại mà suy đoán, ta như hình dung ra cả một cuộc lễ hội, đón rước tưng bừng trọng thể, có cờ bay, trống nện, chuông reo và bao bước chân nhộn nhịp rộn ràng, như lời một bài hát quen thuộc trong đêm trăng múa trò sư tử:
Tùng! tùng! tùng! trống rộn ràng ngoài đình
Có con sư tử đang múa quanh vòng quanh
Trung thu liên hoan trăng sáng ngập đường làng
Dưới bóng trăng vàng, em hát múa, reo vui.
Song thơ bà vốn kiệm lời, chặt tứ, ý kín mà đa nghĩa, chỉ một câu bảy chữ tưởng chẳng ăn nhập gì với toàn bài mà lại gắn bó rất khớp từ câu một đến câu bốn, từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng. Ngoài nghĩa thực, nghĩa ẩn chỉ thân thể phụ nữ, sinh thực khí, cũng như hoạt động tính giao nơi buồng the, còn cả nghĩa tâm tình, xã hội, cũng như khát vọng hạnh phúc lứa đôi.
Câu thơ đưa ta về với không khí của một cuộc ăn hỏi, đón rước linh đình, một đám cưới tưng bừng trọng thể, toát lên vẻ nhộn nhịp, vui mừng. Lẽ thường, cờ đuôi nheo bao giờ chả đi kèm với trống phách, chiêng chuông, song nếu chỉ hiểu ở nghĩa thực ấy thì thật quá đơn giản, nghĩa ảo mà bà muốn nói tới ở đây là đám cưới của cô gái. Tuy là phận chéo khố, chẳng lấy đâu vuông, nhưng cũng như tất cả những người đàn bà con gái quý tộc, danh giá khác, đã được chàng yêu thương, theo đuổi, thề non hẹn biển và cuối cùng được cha mẹ chàng cũng như bà con họ hàng tìm đến tổ chức ăn hỏi, cưới xin đàng hoàng rồi đấy. Xin chàng hãy yêu thương em như ngày đầu động phòng hoa trúc, chớ có rẫy ruồng, lạnh nhạt như hôm nay, lúc này, chàng ơi...
Bài thơ chỉ vẻn vẹn 28 chữ mà như 28 chiếc gương trong... nhà kính vạn
hoa. Mỗi từ, mỗi chữ đều ánh lên tầng tầng lớp lớp những ý tưởng phồn thực, sinh động, những ngữ nghĩa đa dạng, ảo, thực phong phú... Chỉ cần bước vào gian phòng thi ca của bà, giống như bước vào nhà kính vạn gương, sau khi đã tìm được những câu chữ hay- như ô cửa thông thoáng mà bà náu mình trong đó, hoặc những "công tắc thơ" để bật lên... lập tức ta rơi vào trạng thái choáng ngợp, bối rối, bởi những chữ, những gương- dù quay ngang, quay ngửa, tiến lên phía trước hoặc lùi lại phía sau, đều phản ánh những tư tưởng, lời lẽ, ý nghĩ, hình ảnh nghịch ngợm nhưng sâu sắc của bà...Phải khó khăn lắm mới thăng bằng trở lại để khỏi lạc, khỏi vấp, lò dò bước ra khỏi nhà kính vạn gương, cũng là thế giới thơ bà để hòa nhập với thế giới bên ngoài, lòng còn dạt dào những ấn tượng, cảm xúc...
(còn tiếp)
Hà Nội 27-1-2007
Trần Khải Thanh Thuỷ
Sunday, April 22, 2007
Ngày xuân đọc lại giai thoại Hồ Xuân Hương
Trần Khải Thanh Thuỷ
“… một trí tuệ sắc sảo, nghịch ngợm, phong phú hơn người, hẳn cuộc đời bà còn vô vàn những giai thoại,…”
Hồ xuân Hương, con ông Hồ sĩ Danh (1706 - 1783), em cùng cha khác mẹ với quận công Hồ Sĩ Đống (1738 - 1786), quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lôi, Nghệ An. Mẹ là người xứ bắc, khi cha và anh mất, Hồ Xuân Hương tuy không còn nhỏ nhưng với thân phận thê thiếp lẽ mọn, hai mẹ con đành phải đưa nhau trở về đất Bắc sinh sống. Ngôi nhà nhỏ ven Hồ tây thuộc phường Khán Xuân, khu vực núi Nùng (Bách Thảo- Hà Nội) dẫu chỉ tranh tre nứa lá, nơi Hồ Xuân Hưng vừa xem sách, làm thơ, vừa dạy học trò nuôi mẹ già. Nhờ nhân thủy hữu tình mà khách khứa dập dìu ra vào khá đông.
Những bài thơ và giai thoại bà để lại trong thời kỳ này khá nhiều. Giai thoại đầu tiên xuất hiện ngay sau khi bà từ Vĩnh Phú về dựng cổ nguyệt đường dạy học, làm thơ.
Hôm ấy một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh- cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long - nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào - vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành...
Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:
Võng điều quan lớn đi trên ấy
Váy rách bà con giặt dưới này
Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu ?
Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy...Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.
Giai thoại thứ hai bắt nguồn từ hai chữ cổ nguyệt (ghép lại thành chữ Hồ), có người cho là của Chiêu Hổ chòng ghẹo bà.
Người cổ lại còn đeo thói nguyệt
Buồng xuân chi để lạnh mùi hương ?(1)
Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo: "Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ ?
Sát nhà là đền Trấn Võ, có gác chuông cao, treo quả chuông lớn, nhiều chàng nho sĩ đến thăm, cũng học đòi, ti toe làm thơ. Vốn táo tợn, Xuân Hương chẳng chịu tha cho những kẻ đầy bồ chữ nghĩa, tưởng thênh thang học rộng, tài cao mà toàn đồ chè chai giấy lộn ấy. Xuân Hương quyết lộn trái chúng ra:
- Được gặp các thầy nơi đền cao cửa kín này thật vinh hạnh, thóang trông đã rõ các thầy tài học uyên bác. Dám xin các thầy một bài thơ được không ạ ?
-Tưởng việc gì chứ thơ thì sẵn lắm, cô cứ ra đề cho.
-Dạ tiện đây xin các thầy vịnh quả chuông luôn, cứ lấy vần uông làm vần.
-Tưởng được gãi đúng chỗ ngứa, ai ngờ vớ phải quả chuông rè, chuông câm, ngoài hai tiếng kêu "bính boong" là hết, biết gắn vần uông vào chỗ nào đây ?
Ngần ngừ, mãi vẫn tắc tị, một thầy đánh liều gạ gẫm :
- Vần uông không ổn cô ạ, hay là...
Biết tỏng mớ chữ nghiã giấy lộn trong đôi bồ của các thầy không mấy đáng giá, Hồ Xuân Hương tung chưởng cho họ rơi từ đỉnh gác chuông tới... tận đáy hồ, không sao mọc mũi sủi tăm lên được:
- Sao lại không ? Em thử làm vài câu cho các thầy nghe nhé:
Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.
Càng ở càng "sặc nước", quần áo ướt sũng sĩnh vì mồ hôi, nước lạnh Hồ Xuân Hương dội lên đầu, các thầy đành ngớ ngẩn cười trừ rồi cút thẳng. Mỗi lần nhớ lại vần uông, cái chuông của thi sĩ họ Hồ, tên Hương lại buốt tận xương hông, không dám giở trò văn vẻ, chữ nghiã ra trước bàn dân thiên hạ nữa.
Cũng bởi nhà ở gần đền mà Hồ Xuân Hương hay thơ thẩn đi dạo, lần ấy đúng vào dịp Triều đình mở khoa thi, các sĩ tử, văn nhân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước dập dìu về kinh thành Thăng Long dự thi rất đông. Trong số đó có “cậu ấm” con quan chánh chủ khảo kỳ thi, cùng đám bạn vàng giầu có. Nhân chơi hồ Hoàn Kiếm thấy cảnh Đền đẹp liền kéo vào. Để tỏ rõ tài thơ phú trước đám bạn vàng, cậu con chánh chủ khảo liền “ Tức cảnh sinh tình” vịnh luôn một bài “thẩn” đề vào ngay vách Đền làm “ kỷ niệm”:
Khen ai đổ đất đắp nên chùa
Một nếp thù lù ở giữa hồ,
Mặt nước bóng chiều đà bảng lảng
Làm sao vẫn chửa thấy chuông khuơ ?
Xuân Hương đang thơ thẩn quanh đó, thấy mọi người cười cợt, chỉ trỏ, liền sà vào, bắt gặp bài thơ và tác giả "rặn thơ" liền ôm bụng cười ngặt nghẽo. Cười chán, bà mượn bút mực, vung tay đề tiếp bài thơ “cảnh tỉnh’ của mình bên cạnh để trả lời “cậu ấm” và một xâu đám bạn lòi tói- những cốc chén, sứt mẻ, rạn vành, gẫy quai, thích chơi trèo của chúng:
Dắt díu nhau lên đến cửa chiền
Cũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn bảo phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, gặp người khẩu khí chững chạc đến thế, cậu ấm đành phải dựa cột...để nghe cho thủng, xong bấm bụng, xủng xong lốc nhốc kéo cả xâu chuỗi về. Chẳng bao giờ dám khoe dại, khoe khôn nơi vách đền nữa. Đền được trả lại vẻ đẹp cổ kính, u tịch trang nghiêm ban đầu. Vì sau đó chẳng ai dám vượt mặt “Bà chúa Thơ Nôm” để đề “thẩn” lên tường, làm bẩn tường nữa.
Lại một lần nữa, lúc này tiếng tăm của bà đã nổi khắp thành Thăng Long. Đang lững thững từ chùa Trấn Quốc về Cổ Nguyệt đường thì nghe có tiếng lơi lả, chòng ghẹo ở phía sau, biết rõ căn bệnh: ăn không nên đọi, nói chẳng thành lời của các thầy, Xuân Hương lẳng lặng men theo men hồ, đến sát chân núi Nùng, cạnh nhà, mới dùng lời sắc như dao để cắt đuôi:
- Chả mấy khi được gặp các thầy, em xin đọc hầu các thầy một bài nhé:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây chị dạy phép làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa
Nghe khẩu khí biết ngay là Hồ Xuân Hương, các thầy ngượng chín cả người. Tưởng đánh trống qua cửa nhà trời, ai ngờ sấm dội, mưa chan...gẫy cả dùi, vỡ cả trống. Tứ, ngũ túc dúm hết lại, suýt thì lộn cổ xuống hồ. Chờ cho Xuân Hương tung tăng vào hẳn trong nhà, các thầy mới dám xiêu vẹo bước. Thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Đã ngứa nọc, buồn sừng lại gặp phải dậu thưa, hoa rữa, gỡ chẳng ra lại còn bị cười lỡm đến thối nọc, gẫy sừng.
Tại cổ nguyệt đình, không ít chuyện tức cười xảy ra. Dẫu cách 200 năm (cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18) sự sắc sảo, ngạo ngược của bà vẫn vượt qua lớp rào thời gian trùng trùng, điệp điệp để đến với thế hệ chúng ta hôm nay. Nghe một lần là nhớ, người bạo gan thì thích thú, kẻ hiền lành thì xấu hổ, nhưng không thể nào quên. Hồi bà dựng nhà ở Cổ Nguyệt đường - sáng mở quán bán rượu, chiều dạy học - từng tiếp xúc với nhiều văn nho, sĩ tử, những tao nhân mặc khách trong Kinh Thành ra chơi, song khó chịu nhất là các thầy Cử Võ. Vốn văn dốt, võ dát, hễ rượu vào là lời ra, lại toàn những lời tục tằn nhảm nhí, chỉ từ rốn chị em trở xuống.
Bị xúc phạm sau vài lần được các thầy "bóc trần" bản thể, bà liền "chọc" lại bằng cách họa chân dung chính họ cũng là cái giống quý của họ, ngầm cảnh cáo: "Các ông càng dương dương tự đắc, nghiêm trang, chĩnh chện bao nhiêu thì càng giống với cái "giống quý" bấy nhiêu mà thôi, chẳng hơn gì cái "tục tằn" nơi bản thể chúng tôi đâu.
Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Đầu đội nón da, loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen
Nghe Xuân Hương đọc thơ, các thầy chết lặng, sượng sùng bỏ về. Trước khi ra khỏi Cổ Nguyệt đường, còn cố vớt vát một câu:
- Nó đã họa bộ dạng chúng ta: Vừa ngây ngô, ngây ngố lại bậy bạ, tức cười thế...Hỏi còn mặt mũi nào ngồi lại được nữa?
Từ đó, như bị dìm tận đáy hồ, các ông Cử không bao giờ còn "mọc mũi sủi tăm" để mò đến Cổ Nguyệt đường, tụ tập kể chuyện, bình phẩm bậy bạ, chọc ngoáy lung tung và cười cợt rẻ tiền, khiếm nhã được nữa.
Biết sợ mà vẫn phải nể phục, lần ấy vua Gia Long tiến quân ra Bắc Hà, sai quan chức trong thành dựng cổng trào, treo đèn kết hoa đón tiếp...biết tài Hồ Xuân Hương, các quan bèn cử người đến tận Cổ Nguyệt đường để xin câu đối dán ở cổng chào. Được tiến cử, Xuân Hương không chút do dự viết:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện
Tướng quân Thanh thế áp tam thuỳ
[Nghĩa là: Cờ xí nhà vua dăng khắp chốn, che nửa mặt người;
Uy danh tướng quân trùm ba cõi... ]
Câu đối được treo lên, vua Gia Long nắc nỏm khen, bàn dân thiên hạ cười mủm mỉm, còn quan bé, quan to giật điếng người...vì phong cách nghịch ngợm của Hồ Xuân Hưng chẳng giấu vào đâu được, khen vua mà lại xỏ ngầm chết vua đấy. Bán diện nghiã là khuôn mặt chia ra làm hai nửa theo chiều dọc, còn áp tam thuỳ...có khác gì áp vào cái chỗ ba góc da còn thiếu ấy? Đến nỗi chúa dấu vua yêu một cái này thì tướng quân dại gì buông tha? Câu đối được hiểu theo nghĩa ngầm rằng:
Che nửa mặt... rực cờ Thiên Phủ
Trấn ba góc: rõ tài tướng quân
Biết được cả nghĩa ngầm lẫn nghĩa phô của câu đối, bà con ai cũng nắc nỏm khen:
-Đúng là khẩu khí Xuân Hương thật, không có nhưng mà có mới ngoan.
Khi,quân Tây Sơn tiến vào giải phóng Thăng Long ghi chiến công Đống Đa oanh liệt: Ngổn ngang giặc chết vùi xương thành gò - viên tướng Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử ngay tại đại bản doanh của mình. Sợ hồn ma, bóng quỷ của hắn không chịu ngậm hờn, nuốt tủi nơi chín suối, lại trở về quấy nhiễu dương gian, bà con Hoa Kiều lập miếu thờ. Vốn biết rõ sự tích, Hồ Xuân Hương đã không mủi lòng thương vay, khóc mướn, còn làm thơ tỏ thái độ:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.
Vào cái thưở trọng nam khinh nữ cách chúng ta một phần tư thiên niên kỷ, bà đã ngạo ngược: Ghé mắt trông ngang, còn bộc lộ rõ thái độ của mình: Ví đây đổi phận làm trai được. Đọc bài thơ từ lời lẽ cấu tứ, quan điểm ...nào ai dám bảo là của nữ nhi thường tình làm ?
Chuyện hiền lành ít tai tiếng nhất của Hồ Xuân Hương đối với những người mến mộ tài năng có lẽ là lần tiếp một chú khách người Tàu.
Vì tò mò, mến mộ, chú khách mò đến cổ nguyệt đường định thưởng nguyệt xem hoa...Nếu dễ dãi thì hái lấy chơi, mà lắm gai quá thì...ngó nghiêng, nghiêng ngó rồi về( mất gì của ngộ?). Không ngờ bị Xuân Hương chặn cửa bằng câu đối:
Chân đi hài Hán,
tay bán bánh Đường,
miệng hát líu lường,
ngây Ngô ngây ngố
Chú khách đứng xịu mặt, chân di mòn vẹt đất, hai đầu gối reo hát trên nền gạch, trấn tĩnh mãi mới nhận ra ba chữ Hán, Đường, Ngô là tên ba triều vua nước mình mà không biết đối lại thế nào, đành phải nở nụ cười ngây Ngô ngây ngố mà bỏ chạy, tuột cả hài Hán lẫn bánh Đường.
Về quê nội Quỳnh Đôi, bà cũng đối đầu ngang ngửa với các sĩ tử, ông đồ- những người ngưỡng mộ bà lũ lượt kéo tới nhà để xem mặt, bắt...hồn thơ, xem có đúng "danh bất hư truyền" như người đời tán tụng không ?
Trước mặt họ là một người đàn bà nhan sắc chưa phải chim sa cá lặn, dung mạo cũng chẳng phô bày nhung lụa, phấn son, nhưng phong thái đoan trang, ngôn từ lịch thiệp, lại nổi tiếng về trình độ học vấn, giỏi thơ nôm, khiến ai cũng cảm thấy hài lòng, mến mộ.
Cuộc thi tài diễn ra ngay tối đầu tiên, tất cả các sĩ tử, văn nhân đều bị đánh bại, riêng ông đồ Dương Trí Tản- tính tình ngang ngạnh, tự phụ, là ra vẻ bất cần. Chờ cho đám bạn bè thất trận đi vãn ông mới thủng thẳng tìm đến ra mắt người đẹp.
Rít xong điếu thuốc lào, nhả khói mù mịt gian phòng, Trí Tản cố tình ứng khẩu lại bài thơ đã chuẩn bị sẵn:
Eo lưng thắt đáy thật là xinh,
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình
Quá dạn dĩ trong những trường hợp mượn điếu để tả người, vờ say thuốc để say người, lại biết rõ tính tình, nguồn gốc ông đồ tự phong (không qua thi cử, không đỗ ông cống, ông nghè, lại thích đe... hàng tổng) Xuân Hương cho ngã ngựa luôn, khỏi phải say sưa, mơ màng trong khói thuốc nữa:
Giương (2) oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tản rồi
Thoáng ngửi, thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình ?
Bài thơ tỏ rõ bản lĩnh nhanh nhạy, sắc sảo và cũng không kém phần thẳng thắn, quyết liệt của Hồ Xuân Hương, dùng chính cái tên của ông đồ rởm, gõ đầu trẻ không xong, còn đòi gõ đầu Hồ Xuân Hương? Mượn điếu bát để tỏ tình thân...gái, chưa được gái già này cho phép đã tính chuyện ái ân (hương lửa) trong khi Xuân Hương có cả đống người chạy theo tán tỉnh nơi kinh kỳ, đô hội còn không được nữa là người nghiện thuốc lào, suốt ngày hun khói mù trời, ăn nói ngạo mạn, xấc xược như ông ta. Xuân Hương là con người bằng xương, bằng thịt, thích cảm xúc êm dịu, tao nhã, chứ đâu phải cái điếu bát trơ khấc, để ông muốn bén duyên hương lửa, ân ái vợ chồng lúc nào là có thể đè ra như đè điếu được?
Vừa song phi đã ngã ngựa, ông Trí không dám giữ bộ mặt dương dương tự đắc nữa mà nhân lúc mọi người tản đi vì trời khuya, bèn bấm bụng rút lui, thua tài trí Xuân Hương. Từ đó thôi ti toe, không còn giở thói đàn anh, bắt nạt, lấn lướt, lớp nho sinh, văn sĩ trong làng nữa.
Với độ tuổi ngoài 65 (bà sinh năm 1767- cùng thời với Nguyễn Du và Chiêu Hổ (1765-1768), mất năm 1833 - trước bài thơ của Tùng Thiện Vương- tức Nguyễn Phúc Nguyên Thẩm- viết về ngôi mộ của bà ven hồ Tây, chín năm- cùng một trí tuệ sắc sảo, nghịch ngợm, phong phú hơn người, hẳn cuộc đời bà còn vô vàn những giai thoại, câu đối. Từ việc khóc Tổng Cóc khi hắn và vợ con vẫn sống nhăn răng, đến việc mừng Chiêu Hổ đã vinh hoa, phú quý, thi đỗ ra làm quan, khóc ông Phủ Vĩnh Tường, khóc cho thân phận mình những đêm khuya thanh vắng ...
Tiếc rằng với một bài viết nhỏ không thể nào tải hết được, đành phải cất "gậy thần, hồ lô" khép cánh cửa tâm hồn, cuộc đời, giai thoại của bà lại, chờ ra giêng ngày rộng, tháng dài, sẽ có dịp bầy tỏ đầy đủ, kỹ lưỡng hơn. Là bậc hậu sinh, chỉ dựa cột nghe các bậc tiền bối đàm đạo, phán xét mà có đôi lời bàn luận, thưa thớt. Năm hết, tết đến, có gì còn sơ suất, xin được lượng thứ.
Kinh thành 21-1-2007
Trần Khải Thanh Thuỷ
(1) Trong văn bản của Đại Nam đối thi tại Học viện Viễn Đông, Bác Cổ (Pháp) lại là một sự khẳng định. Không rõ là tam sao thất bản hay chủ ý của người trêu:
Buồng xuân chỉ để lạnh mùi hương ?
(2) Từ đồng âm với tên họ Dương của ông Trí.
“… một trí tuệ sắc sảo, nghịch ngợm, phong phú hơn người, hẳn cuộc đời bà còn vô vàn những giai thoại,…”
Hồ xuân Hương, con ông Hồ sĩ Danh (1706 - 1783), em cùng cha khác mẹ với quận công Hồ Sĩ Đống (1738 - 1786), quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lôi, Nghệ An. Mẹ là người xứ bắc, khi cha và anh mất, Hồ Xuân Hương tuy không còn nhỏ nhưng với thân phận thê thiếp lẽ mọn, hai mẹ con đành phải đưa nhau trở về đất Bắc sinh sống. Ngôi nhà nhỏ ven Hồ tây thuộc phường Khán Xuân, khu vực núi Nùng (Bách Thảo- Hà Nội) dẫu chỉ tranh tre nứa lá, nơi Hồ Xuân Hưng vừa xem sách, làm thơ, vừa dạy học trò nuôi mẹ già. Nhờ nhân thủy hữu tình mà khách khứa dập dìu ra vào khá đông.
Những bài thơ và giai thoại bà để lại trong thời kỳ này khá nhiều. Giai thoại đầu tiên xuất hiện ngay sau khi bà từ Vĩnh Phú về dựng cổ nguyệt đường dạy học, làm thơ.
Hôm ấy một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh- cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long - nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào - vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành...
Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:
Võng điều quan lớn đi trên ấy
Váy rách bà con giặt dưới này
Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu ?
Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy...Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.
Giai thoại thứ hai bắt nguồn từ hai chữ cổ nguyệt (ghép lại thành chữ Hồ), có người cho là của Chiêu Hổ chòng ghẹo bà.
Người cổ lại còn đeo thói nguyệt
Buồng xuân chi để lạnh mùi hương ?(1)
Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo: "Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ ?
Sát nhà là đền Trấn Võ, có gác chuông cao, treo quả chuông lớn, nhiều chàng nho sĩ đến thăm, cũng học đòi, ti toe làm thơ. Vốn táo tợn, Xuân Hương chẳng chịu tha cho những kẻ đầy bồ chữ nghĩa, tưởng thênh thang học rộng, tài cao mà toàn đồ chè chai giấy lộn ấy. Xuân Hương quyết lộn trái chúng ra:
- Được gặp các thầy nơi đền cao cửa kín này thật vinh hạnh, thóang trông đã rõ các thầy tài học uyên bác. Dám xin các thầy một bài thơ được không ạ ?
-Tưởng việc gì chứ thơ thì sẵn lắm, cô cứ ra đề cho.
-Dạ tiện đây xin các thầy vịnh quả chuông luôn, cứ lấy vần uông làm vần.
-Tưởng được gãi đúng chỗ ngứa, ai ngờ vớ phải quả chuông rè, chuông câm, ngoài hai tiếng kêu "bính boong" là hết, biết gắn vần uông vào chỗ nào đây ?
Ngần ngừ, mãi vẫn tắc tị, một thầy đánh liều gạ gẫm :
- Vần uông không ổn cô ạ, hay là...
Biết tỏng mớ chữ nghiã giấy lộn trong đôi bồ của các thầy không mấy đáng giá, Hồ Xuân Hương tung chưởng cho họ rơi từ đỉnh gác chuông tới... tận đáy hồ, không sao mọc mũi sủi tăm lên được:
- Sao lại không ? Em thử làm vài câu cho các thầy nghe nhé:
Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông,
Nó bảo nhau rằng ấy ái uông.
Càng ở càng "sặc nước", quần áo ướt sũng sĩnh vì mồ hôi, nước lạnh Hồ Xuân Hương dội lên đầu, các thầy đành ngớ ngẩn cười trừ rồi cút thẳng. Mỗi lần nhớ lại vần uông, cái chuông của thi sĩ họ Hồ, tên Hương lại buốt tận xương hông, không dám giở trò văn vẻ, chữ nghiã ra trước bàn dân thiên hạ nữa.
Cũng bởi nhà ở gần đền mà Hồ Xuân Hương hay thơ thẩn đi dạo, lần ấy đúng vào dịp Triều đình mở khoa thi, các sĩ tử, văn nhân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước dập dìu về kinh thành Thăng Long dự thi rất đông. Trong số đó có “cậu ấm” con quan chánh chủ khảo kỳ thi, cùng đám bạn vàng giầu có. Nhân chơi hồ Hoàn Kiếm thấy cảnh Đền đẹp liền kéo vào. Để tỏ rõ tài thơ phú trước đám bạn vàng, cậu con chánh chủ khảo liền “ Tức cảnh sinh tình” vịnh luôn một bài “thẩn” đề vào ngay vách Đền làm “ kỷ niệm”:
Khen ai đổ đất đắp nên chùa
Một nếp thù lù ở giữa hồ,
Mặt nước bóng chiều đà bảng lảng
Làm sao vẫn chửa thấy chuông khuơ ?
Xuân Hương đang thơ thẩn quanh đó, thấy mọi người cười cợt, chỉ trỏ, liền sà vào, bắt gặp bài thơ và tác giả "rặn thơ" liền ôm bụng cười ngặt nghẽo. Cười chán, bà mượn bút mực, vung tay đề tiếp bài thơ “cảnh tỉnh’ của mình bên cạnh để trả lời “cậu ấm” và một xâu đám bạn lòi tói- những cốc chén, sứt mẻ, rạn vành, gẫy quai, thích chơi trèo của chúng:
Dắt díu nhau lên đến cửa chiền
Cũng đòi học nói, nói không nên
Ai về nhắn bảo phường lòi tói
Muốn sống đem vôi quét trả đền.
Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, gặp người khẩu khí chững chạc đến thế, cậu ấm đành phải dựa cột...để nghe cho thủng, xong bấm bụng, xủng xong lốc nhốc kéo cả xâu chuỗi về. Chẳng bao giờ dám khoe dại, khoe khôn nơi vách đền nữa. Đền được trả lại vẻ đẹp cổ kính, u tịch trang nghiêm ban đầu. Vì sau đó chẳng ai dám vượt mặt “Bà chúa Thơ Nôm” để đề “thẩn” lên tường, làm bẩn tường nữa.
Lại một lần nữa, lúc này tiếng tăm của bà đã nổi khắp thành Thăng Long. Đang lững thững từ chùa Trấn Quốc về Cổ Nguyệt đường thì nghe có tiếng lơi lả, chòng ghẹo ở phía sau, biết rõ căn bệnh: ăn không nên đọi, nói chẳng thành lời của các thầy, Xuân Hương lẳng lặng men theo men hồ, đến sát chân núi Nùng, cạnh nhà, mới dùng lời sắc như dao để cắt đuôi:
- Chả mấy khi được gặp các thầy, em xin đọc hầu các thầy một bài nhé:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây chị dạy phép làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa
Nghe khẩu khí biết ngay là Hồ Xuân Hương, các thầy ngượng chín cả người. Tưởng đánh trống qua cửa nhà trời, ai ngờ sấm dội, mưa chan...gẫy cả dùi, vỡ cả trống. Tứ, ngũ túc dúm hết lại, suýt thì lộn cổ xuống hồ. Chờ cho Xuân Hương tung tăng vào hẳn trong nhà, các thầy mới dám xiêu vẹo bước. Thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào. Đã ngứa nọc, buồn sừng lại gặp phải dậu thưa, hoa rữa, gỡ chẳng ra lại còn bị cười lỡm đến thối nọc, gẫy sừng.
Tại cổ nguyệt đình, không ít chuyện tức cười xảy ra. Dẫu cách 200 năm (cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18) sự sắc sảo, ngạo ngược của bà vẫn vượt qua lớp rào thời gian trùng trùng, điệp điệp để đến với thế hệ chúng ta hôm nay. Nghe một lần là nhớ, người bạo gan thì thích thú, kẻ hiền lành thì xấu hổ, nhưng không thể nào quên. Hồi bà dựng nhà ở Cổ Nguyệt đường - sáng mở quán bán rượu, chiều dạy học - từng tiếp xúc với nhiều văn nho, sĩ tử, những tao nhân mặc khách trong Kinh Thành ra chơi, song khó chịu nhất là các thầy Cử Võ. Vốn văn dốt, võ dát, hễ rượu vào là lời ra, lại toàn những lời tục tằn nhảm nhí, chỉ từ rốn chị em trở xuống.
Bị xúc phạm sau vài lần được các thầy "bóc trần" bản thể, bà liền "chọc" lại bằng cách họa chân dung chính họ cũng là cái giống quý của họ, ngầm cảnh cáo: "Các ông càng dương dương tự đắc, nghiêm trang, chĩnh chện bao nhiêu thì càng giống với cái "giống quý" bấy nhiêu mà thôi, chẳng hơn gì cái "tục tằn" nơi bản thể chúng tôi đâu.
Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Đầu đội nón da, loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen
Nghe Xuân Hương đọc thơ, các thầy chết lặng, sượng sùng bỏ về. Trước khi ra khỏi Cổ Nguyệt đường, còn cố vớt vát một câu:
- Nó đã họa bộ dạng chúng ta: Vừa ngây ngô, ngây ngố lại bậy bạ, tức cười thế...Hỏi còn mặt mũi nào ngồi lại được nữa?
Từ đó, như bị dìm tận đáy hồ, các ông Cử không bao giờ còn "mọc mũi sủi tăm" để mò đến Cổ Nguyệt đường, tụ tập kể chuyện, bình phẩm bậy bạ, chọc ngoáy lung tung và cười cợt rẻ tiền, khiếm nhã được nữa.
Biết sợ mà vẫn phải nể phục, lần ấy vua Gia Long tiến quân ra Bắc Hà, sai quan chức trong thành dựng cổng trào, treo đèn kết hoa đón tiếp...biết tài Hồ Xuân Hương, các quan bèn cử người đến tận Cổ Nguyệt đường để xin câu đối dán ở cổng chào. Được tiến cử, Xuân Hương không chút do dự viết:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện
Tướng quân Thanh thế áp tam thuỳ
[Nghĩa là: Cờ xí nhà vua dăng khắp chốn, che nửa mặt người;
Uy danh tướng quân trùm ba cõi... ]
Câu đối được treo lên, vua Gia Long nắc nỏm khen, bàn dân thiên hạ cười mủm mỉm, còn quan bé, quan to giật điếng người...vì phong cách nghịch ngợm của Hồ Xuân Hưng chẳng giấu vào đâu được, khen vua mà lại xỏ ngầm chết vua đấy. Bán diện nghiã là khuôn mặt chia ra làm hai nửa theo chiều dọc, còn áp tam thuỳ...có khác gì áp vào cái chỗ ba góc da còn thiếu ấy? Đến nỗi chúa dấu vua yêu một cái này thì tướng quân dại gì buông tha? Câu đối được hiểu theo nghĩa ngầm rằng:
Che nửa mặt... rực cờ Thiên Phủ
Trấn ba góc: rõ tài tướng quân
Biết được cả nghĩa ngầm lẫn nghĩa phô của câu đối, bà con ai cũng nắc nỏm khen:
-Đúng là khẩu khí Xuân Hương thật, không có nhưng mà có mới ngoan.
Khi,quân Tây Sơn tiến vào giải phóng Thăng Long ghi chiến công Đống Đa oanh liệt: Ngổn ngang giặc chết vùi xương thành gò - viên tướng Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử ngay tại đại bản doanh của mình. Sợ hồn ma, bóng quỷ của hắn không chịu ngậm hờn, nuốt tủi nơi chín suối, lại trở về quấy nhiễu dương gian, bà con Hoa Kiều lập miếu thờ. Vốn biết rõ sự tích, Hồ Xuân Hương đã không mủi lòng thương vay, khóc mướn, còn làm thơ tỏ thái độ:
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo
Kìa đền thái thú đứng cheo leo
Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.
Vào cái thưở trọng nam khinh nữ cách chúng ta một phần tư thiên niên kỷ, bà đã ngạo ngược: Ghé mắt trông ngang, còn bộc lộ rõ thái độ của mình: Ví đây đổi phận làm trai được. Đọc bài thơ từ lời lẽ cấu tứ, quan điểm ...nào ai dám bảo là của nữ nhi thường tình làm ?
Chuyện hiền lành ít tai tiếng nhất của Hồ Xuân Hương đối với những người mến mộ tài năng có lẽ là lần tiếp một chú khách người Tàu.
Vì tò mò, mến mộ, chú khách mò đến cổ nguyệt đường định thưởng nguyệt xem hoa...Nếu dễ dãi thì hái lấy chơi, mà lắm gai quá thì...ngó nghiêng, nghiêng ngó rồi về( mất gì của ngộ?). Không ngờ bị Xuân Hương chặn cửa bằng câu đối:
Chân đi hài Hán,
tay bán bánh Đường,
miệng hát líu lường,
ngây Ngô ngây ngố
Chú khách đứng xịu mặt, chân di mòn vẹt đất, hai đầu gối reo hát trên nền gạch, trấn tĩnh mãi mới nhận ra ba chữ Hán, Đường, Ngô là tên ba triều vua nước mình mà không biết đối lại thế nào, đành phải nở nụ cười ngây Ngô ngây ngố mà bỏ chạy, tuột cả hài Hán lẫn bánh Đường.
Về quê nội Quỳnh Đôi, bà cũng đối đầu ngang ngửa với các sĩ tử, ông đồ- những người ngưỡng mộ bà lũ lượt kéo tới nhà để xem mặt, bắt...hồn thơ, xem có đúng "danh bất hư truyền" như người đời tán tụng không ?
Trước mặt họ là một người đàn bà nhan sắc chưa phải chim sa cá lặn, dung mạo cũng chẳng phô bày nhung lụa, phấn son, nhưng phong thái đoan trang, ngôn từ lịch thiệp, lại nổi tiếng về trình độ học vấn, giỏi thơ nôm, khiến ai cũng cảm thấy hài lòng, mến mộ.
Cuộc thi tài diễn ra ngay tối đầu tiên, tất cả các sĩ tử, văn nhân đều bị đánh bại, riêng ông đồ Dương Trí Tản- tính tình ngang ngạnh, tự phụ, là ra vẻ bất cần. Chờ cho đám bạn bè thất trận đi vãn ông mới thủng thẳng tìm đến ra mắt người đẹp.
Rít xong điếu thuốc lào, nhả khói mù mịt gian phòng, Trí Tản cố tình ứng khẩu lại bài thơ đã chuẩn bị sẵn:
Eo lưng thắt đáy thật là xinh,
Điếu ai hơn được điếu cô mình
Thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa
Càng núc, càng say tính với tình
Quá dạn dĩ trong những trường hợp mượn điếu để tả người, vờ say thuốc để say người, lại biết rõ tính tình, nguồn gốc ông đồ tự phong (không qua thi cử, không đỗ ông cống, ông nghè, lại thích đe... hàng tổng) Xuân Hương cho ngã ngựa luôn, khỏi phải say sưa, mơ màng trong khói thuốc nữa:
Giương (2) oai giễu võ thật là kinh
Danh tiếng bao lăm đã tản rồi
Thoáng ngửi, thoáng ghê hơi hương lửa
Tài trí ra sao hỏi tính tình ?
Bài thơ tỏ rõ bản lĩnh nhanh nhạy, sắc sảo và cũng không kém phần thẳng thắn, quyết liệt của Hồ Xuân Hương, dùng chính cái tên của ông đồ rởm, gõ đầu trẻ không xong, còn đòi gõ đầu Hồ Xuân Hương? Mượn điếu bát để tỏ tình thân...gái, chưa được gái già này cho phép đã tính chuyện ái ân (hương lửa) trong khi Xuân Hương có cả đống người chạy theo tán tỉnh nơi kinh kỳ, đô hội còn không được nữa là người nghiện thuốc lào, suốt ngày hun khói mù trời, ăn nói ngạo mạn, xấc xược như ông ta. Xuân Hương là con người bằng xương, bằng thịt, thích cảm xúc êm dịu, tao nhã, chứ đâu phải cái điếu bát trơ khấc, để ông muốn bén duyên hương lửa, ân ái vợ chồng lúc nào là có thể đè ra như đè điếu được?
Vừa song phi đã ngã ngựa, ông Trí không dám giữ bộ mặt dương dương tự đắc nữa mà nhân lúc mọi người tản đi vì trời khuya, bèn bấm bụng rút lui, thua tài trí Xuân Hương. Từ đó thôi ti toe, không còn giở thói đàn anh, bắt nạt, lấn lướt, lớp nho sinh, văn sĩ trong làng nữa.
Với độ tuổi ngoài 65 (bà sinh năm 1767- cùng thời với Nguyễn Du và Chiêu Hổ (1765-1768), mất năm 1833 - trước bài thơ của Tùng Thiện Vương- tức Nguyễn Phúc Nguyên Thẩm- viết về ngôi mộ của bà ven hồ Tây, chín năm- cùng một trí tuệ sắc sảo, nghịch ngợm, phong phú hơn người, hẳn cuộc đời bà còn vô vàn những giai thoại, câu đối. Từ việc khóc Tổng Cóc khi hắn và vợ con vẫn sống nhăn răng, đến việc mừng Chiêu Hổ đã vinh hoa, phú quý, thi đỗ ra làm quan, khóc ông Phủ Vĩnh Tường, khóc cho thân phận mình những đêm khuya thanh vắng ...
Tiếc rằng với một bài viết nhỏ không thể nào tải hết được, đành phải cất "gậy thần, hồ lô" khép cánh cửa tâm hồn, cuộc đời, giai thoại của bà lại, chờ ra giêng ngày rộng, tháng dài, sẽ có dịp bầy tỏ đầy đủ, kỹ lưỡng hơn. Là bậc hậu sinh, chỉ dựa cột nghe các bậc tiền bối đàm đạo, phán xét mà có đôi lời bàn luận, thưa thớt. Năm hết, tết đến, có gì còn sơ suất, xin được lượng thứ.
Kinh thành 21-1-2007
Trần Khải Thanh Thuỷ
(1) Trong văn bản của Đại Nam đối thi tại Học viện Viễn Đông, Bác Cổ (Pháp) lại là một sự khẳng định. Không rõ là tam sao thất bản hay chủ ý của người trêu:
Buồng xuân chỉ để lạnh mùi hương ?
(2) Từ đồng âm với tên họ Dương của ông Trí.
Thư Hà Nội...
Đấu tranh loạn xà ngầu
hay phát ngôn loạn xì ngầu ?
Trần Khải Thanh Thuỷ
Gửi ông tú Gàn!
Lẽ ra tôi không nên trả lời ông vì ngay cái tên ông tự đặt cho mình đã nói lên sự gàn dở của ông rồi. Người khôn ngoan, không ai chấp người gàn, điều này ông có thể tham khảo 22 ý kiến bạn đọc nhận định về ông sau khi ông viết ra những điều bình loạn này. Nhưng thôi, để ông không mất công "trở lại vấn đề này trong một bài khác" như lời cuối bài ông nói, tôi đành bỏ chút thời gian trong quỹ thời gian vô cùng bận rộn, vì bị quá nhiều áp lực của tôi ra để hầu chuyện ông, như mấy tháng qua, tôi đã phải hầu đồn tại cơ quan an ninh từ bộ đến sở, quận, phường, cục(phản gián) vậy, dù tôi chẳng hứng thú gì.
Thứ nhất, ông nghe hơi nồi chõ ở đâu mà lại dám khẳng định nhà tôi ở huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội ? Sao sự "nghe hơi nồi chõ" này lại giống với sự hàm hồ của Nguyễn Khắc Toàn đến thế? Trong một bài viết về tôi và các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến, bị nhà cầm quyền tịch thu phương tiện làm việc, Toàn cũng viết vô cùng sai lệch như vậy, đến mức công an rút bài từ trên mạng xuống phải bảo: "Tưởng nhất nước chỉ có một bà Trần Khải Thanh Thuỷ nổi loạn, chống phá chính quyền, chửi đảng và công an đến cùng, nhà ở phường Đức Giang, quận Long Biên Hà Nội, hoá ra lại có thêm một bà Trần Khải Thanh Thuỷ nữa ở huyện Đông Anh, ngoại thành, cách xa Hà Nội những 40 km cơ à? Thế này thì anh em công an trực thuộc bộ vất vả qúa nhỉ, ngày nào cũng phải đi đi về về 80 km để làm việc với bà Trần Khải Thanh Thuỷ này thì biết bao kinh phí cho đủ?
Xin thưa với ông, tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cách trung tâm Bờ Hồ chưa đầy nửa km( Làng Phụng Cổ- nay là phố Nguyễn Du- quận Hoàn Kiếm Hà Nội) vì "hèn mẹ cha" mà không kê được chỗ đứng giữa lòng Hà Nội cho mình, đành phải lên khai sáng văn minh cho đồng bào dân tộc, làm một cô giáo... 4 tay, như lời bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: "Tay cầm phấn, tay cầm đàn, tay đóng bàn, tay đóng ghế") 29 tuổi về lại cửa ngõ thủ đô( Hà Tây) khát chồng như khát nước, nên vớ đại một ông "nông dân bao bạc", và buộc phải chấp nhận "kỷ nguyên chó nằm gầm trạn". 36 tuổi sang địa bàn phường Đức Giang mua đất, xây nhà và ở từ đó đến nay( tuy vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà mẹ đẻ). Vì thế, nếu tôi có phát ngôn theo kiểu "thoáng hài" của mình là ...Hà Nội mở rộng , Hà Nội qúa đà đi chăng nữa, cũng chỉ cách trung tâm bờ hồ có 8,5 km thôi. Nếu là người làm báo chuyên nghiệp, không ai lại mắc một cái lỗi ngớ ngẩn như thế này . Râu ông phường Đức Giang (nội thành Hà Nội) cắm đùi bà huyện Đông Anh (ngoại thành) xa lơ lắc (khoảng 30 km) .Qủa là chuyện lạ.
Hơn nữa trong bài lại là một sự đánh lận con đen nữa. Làm sao khu tập thể tôi ở lại có thể ôm trùm cả hai nhà máy Diêm và Gỗ, mấy nghìn con người được? Có sự bùng nổ về nhân sự chăng?
Thực tế, nhà tôi ở sát bờ tường của Công ty Cổ phần Diêm Thống Nhất, đất của tôi là đất tư, chẳng dính líu gì đến nhà máy, công ty nào hết. Còn khu tập thể của công ty Diêm, cách xa khu tập thể của nhà máy gỗ cầu Đuống cả nửa km. Tất cả từ vườn trẻ, mẫu giáo chợ búa, sân vận động, nhà văn hoá ... đều tách riêng. Diêm ra diêm, gỗ ra gỗ chứ không thể nhập nhèm thế được. Nếu ông có cơ may về Hà Nội, tìm tôi theo cái địa chỉ ngớ ngẩn này hẳn đến khi đời sang tiểu cũng không tìm nổi. Nếu quả là ông viết theo lối viết hàm hồ của Nguyễn Khắc Toàn( trong bài đã dẫn) thì thật đáng tiếc. Chỉ một cú điện thoại nội hạt, chưa đầy 2.000 đồng trong vòng cả chục phút, Toàn có thể biết rõ địa chỉ nơi tôi cư trú, hoặc địa chỉ nhà mẹ đẻ -nơi tôi đăng ký hộ khẩu thường trú, nếu không, cũng nên bắc miệng hỏi các nhà dân chủ khác, hoặc gọi thẳng đến hội nhà văn mà hỏi, vì tôi có ghi rõ tên tuổi địa chỉ, số điện thoại ở đó. Song thói quen xấu của một người làm báo không chuyên, hay viết ẩu, viết lấy được, bất chấp sự chính xác của tư liệu, tin tức, địa điểm nên đã làm cho người đọc không tin mà chỉ tức. Về phần này ở trong nước đã có có rất nhiều lần bạn đọc lên tiếng rồi: "Hãy để người ta tin, đừng làm người ta tức"
Vì vậy, tôi xin nói rõ địa chỉ nhà tôi để ông ( hoặc Toàn) biết đã viết "cuội" đến mức nào: Trần Khải Thanh Thuỷ, số nhà 16, ngách 670/25 đường Ngô Gia Tự, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Tỉ mỉ hơn nữa là: tổ 45, khối 8, phường Đức Giang trực thuộc địa bàn quận Long Biên .
Về phần bị công an lục soát nhà cửa, tôi không chỉ mất cả trăm kg sách vở, cả nghìn đầu tài liệu, máy điện toán mà cả điện thoại di động, máy ghi âm, 8 đĩa CD và 22 đĩa mềm...Tất cả xếp chật chiếc xe tải huynđai loại vừa, thưa ông.
Điều thứ 2, tôi muốn đề cập trong bài viết là ông hãy lên giây đồng hồ sinh học cho mình, cho đúng với vòng quay thời đại. Sống trong lòng cộng sản lẽ nào tôi lại không hiểu cộng sản hơn một người đã may mắn rời xa cộng sản hàng vài chục năm như ông? Vì thế ba điều "tối kỵ" mà ông nói :
1.- Công khai tổ chức một cơ quan chống đối có nhiều người tham gia và theo một kế hoạch đã định sẵn.
2.- Công khai liên kết với các tổ chức khác, nhất là các tổ chức ở ngoại quốc.
3.- Công khai nhận tài trợ từ trong hay ngoài nước.
Cùng điều kết luận vội vàng của ông " Vì thế, sớm hay muộn, rồi bà cũng sẽ bị công an bắt và bị truy tố, và tổ chức sẽ bị phá tan." chỉ đúng một nửa, đó là việc tôi bị bắt lên hầu đồn thường xuyên, còn truy tố thì điều ấy có thể xảy ra cách đây vài ba năm, trước thời điểm 2005. Còn bây giờ- trước áp lực của các tổ chức nhân quyền quốc tế, trước cơ quan truyền thông và đồng bào Việt Kiều ở Hải ngoại, người cầm bút chân chính như tôi sẽ được bảo vệ. Hội dân oan Việt Nam sẽ được bà con đùm bọc cưu mang để không một thế lực thù địch, đen tối nào có thể phá vỡ, thưa ông. Thành thật đọc những dòng chữ này của ông tôi buồn qúa, trong nhịp quay hối hả của thời đại @, hội nhập toàn cầu, chỉ sau vài giờ đồng hồ là bài toán về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đều phải thay đáp số một lần cho phù hợp, mà ông vẫn giữ riêng cho mình một lối lập luận cũ rích, phi lô gic, như thể trước thập kỷ 40, một lô xiềng xích phong kiến bao quanh đầu, cuốn chặt lấy cổ vậy. Còn tệ hơn cả thời Vũ Trọng Phụng, ví đám đông quần chúng như những con ruồi, bậu vào bộ máy nhà nước là con trâu mộng kềnh càng béo mập, chẳng làm được gì, chỉ cần đuôi trâu đập mạnh là nháo nhác bay lên, biến mất.
Nếu ai cũng sợ hãi và đề cao sức mạnh của cộng sản như ông, thì làm sao có các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến? Có khối 8406, có đảng dân chủ, Đảng Thăng Tiến, khối 64 bà con nhân dân Thái Bình ký vào bản ủng hộ nhân quyền cho Việt Nam? Có 58 con người không sợ chết ở Bắc Giang mà tác giả Đào văn Bình đã viết? Cũng chẳng thể có văn phòng luật sư Nguyễn văn Đài - địa chỉ đỏ của những tấm lòng từ thiện, chuyên tư vấn hoặc viết giúp đơn cho bà con...thưa ông. Thành thực những người này dũng cảm hơn tôi rất nhiều, vì đều là những người đi trước, dám đương đầu với cộng sản, dù bất cứ điều gì có thể xẩy ra. Còn tôi may mắn thay, ngày tôi chọn để ra mắt hội dân oan, cũng là lúc Mặt trận liên minh dân chủ Việt Nam đã thành lập, và tôi đưa cả hội vào trú ngụ trong mái nhà đó, để bà con đỡ bị đàn áp. Cho nên dưới con mắt ông, chúng tôi đều là những kẻ thiếu kinh nghiệm( nhưng thừa lòng nhiệt tình và dũng cảm) phải không ông. ?
Đúng là tôi chẳng có "kế hoạch, chiến lược và chiến thuật đã được nghiên cứu kỹ càng" nào trong việc viết bài giúp dân oan Việt Nam trước đó, và kêu gọi thành lập hội ngày 9-12 vừa rồi, đơn giản tôi là một nhà văn, một người viết, giỏi lý thuyết sách vở, coi lý thuyết như một ngọn đèn pha soi sáng thực tế tối mò trong cuộc sống, chứ không phải một nhà quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao...Mèo chỉ giỏi bắt chuột chứ không thể kéo cày như trâu được, và ngược lại trâu cũng chỉ biết kéo cày chứ không thể thay mèo bắt chuột được. Chính vì biết sự hạn chế của mình cho nên tôi chỉ dám làm một thứ " mõ làng":
Loa! Loa! Loa! Loa
Bà con mình khổ
Bị đảng cưỡi cổ
Ai có tấm lòng
Hãy cứu dân oan
Đứng lên lật đổ"...
Loa! Loa! Loa! Loa...
Hẳn người tự cho là ..."tú khẩu cẩm tâm", học nhiều, hiểu rộng như ông không quên truyền thuyết về cậu bé Gióng vươn vai thành Phù Đổng Thiên Vương ở Việt Nam. Vì đói ăn mà 3 năm không biết nói, biết cười, chỉ đứng ngồi trơ trơ. Người dân oan Việt Nam cũng vậy, bao nhiêu năm bị đảng cướp bóc, cướp mất mái nhà che mưa che nắng trên đầu cùng mảnh ruộng cằn, đến mức sau nửa năm tiêu hết số tiền đền bù, chỉ còn cách cho con trai đi làm cửu vạn, cu li, con gái đi làm đĩ, bố mẹ già cả ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng khiếu kiện. Những ngày đầu, lần đầu chỉ biết ngồi thu lu với nhau, chẳng biết kêu kiện gì. Hết tiền, hết gạo lại thui thủi về làng, rất tội. Chính vì lăn lóc viết bài cho họ cả một năm, nên tôi mới tự nguyện làm một thứ "mõ" hội - kêu gọi bà con Hải ngoại- vốn đã qúa hiểu về chế độ cộng sản cực kỳ độc tài, tàn ác, để thương yêu người "cùng bọc" với mình, những người còn kẹt lại trong vòng vây cộng sản- Khi nào "dân làng" Hải Ngoại góp đủ...7 nong cơm, 3 nong cà để "Gióng" ăn no, vươn vai thành Phù đổng, cưỡi "ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm thanh sắt", đập vào đầu giặc, thì lúc đó vai trò của sứ giả cũng chấm dứt. Chỉ có điều, trong chuyện cổ là giặc ngoại xâm, nên sứ giả là người của triều đình, còn trong thời điểm hiện tại, đất nước đang bị hoạ cộng sản, giặc nội xâm, nên tôi không thể là sứ giả của triều đình cộng sản mà chỉ là sứ giả hoà bình, người bắc loa kêu gọi bà con vì tương thân, tương ái mà giúp dân oan từ địa vị đói khổ, bệnh tật vì bị Đảng hành đứng thẳng lên làm người, đòi lại quyền lợi cho mình, cũng là xoá bỏ vai trò của đảng cộng sản, lập lại nền dân chủ tự do cho dân tộc Việt Nam.
Chính vì không ham hố gì trong việc thành lập này, nên tôi không phải hội trưởng, cũng chẳng là hội viên, càng không phải là người lãnh đạo. Chỉ trong những ngày đầu trứng nước, bà con chưa quen với việc tập hợp thành khối như hiện tại, nên tôi mới phải đứng ra để cùng các sáng lập viên gánh vác trách nhiệm, kêu gọi, động viên, giúp đỡ họ, cả về vật chất, tinh thần, cho đến khi hội trưởng, hội phó cùng các ban điều hành của 64 tỉnh thành cả nước phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau, thì tôi sẽ lại tiếp tục trở về với ngôi đền thi ca của mình.
Bởi ông đã trích dẫn lời Voltaire, nhà văn và nhà cách mạng ” Nhiệt tình là hoa của tuổi trẻ mà sự thất vọng là kết quả" thì tôi cũng khẳng định điều này, thưa ông: "Tư tưởng là hạt giống của hành động", nếu tư tưởng chín chắn( vì tôi đâu còn trẻ) hợp lòng người, đạo trời thì hạt giống nhất định sẽ nầy mầm thành chồi, thành cây xum xuê tươi tốt. Vì vậy, ông chớ có vội mừng thầm vì lầm tưởng chúng tôi sẽ thất vọng. Tóm lại 31 năm sau "chiến thắng" năm 1975, dân tộc Việt Nam vẫn chìm trong tăm tối, bởi quan trí thì thấp mà dân khí thì hèn. Lẽ nào ông cứ muốn tất cả họ -những người dân oan Việt Nam , cùng các nhà dân chủ ngồi trong bóng tối mãi sao?
Việc đề cử các sáng lập viên -theo quan niệm của tôi, hễ ai là người Việt Nam (dù trong hay ngoài nước) mà có tâm, có tầm, có thể cứu giúp bà con, đều là thành viên của ban sáng lập. Càng nhiều người ở nhiều nước trên thế giới càng có thể nối vòng tay lớn, càng có lợi cho bà con. Khung thẩm mỹ của người Việt rộng, nhưng bất cứ việc gì, hễ mang nhân tính, mầm thiện đều là chính danh. Còn người trong nước như ông nhận định: "Vừa phải đối đầu với cộng sản, vừa phải cảnh giác với những âm mưu đen tối của một vài kẻ cùng trong hàng ngũ", để rồi sinh sự, sự sinh. Như thế là hổ danh chứ chính danh gì?
Xem ra về mức độ hàm hồ ông còn vượt xa cả những kẻ hàm hồ khác. Bản thân tôi chỉ là "một tấm lòng trong vạn tấm lòng" yêu quê hương, đất nước, thương bà con cô bác ba miền nên tự nguyện đứng ra cứu giúp bà con thành lập một bộ khung cho hội, để mọi người cùng ngồi vào, tạo nên sức mạnh đoàn kết, sức mạnh của quần chúng, của đám đông, cuả tập thể, để đòi lại quyền làm người cho mình. Vì vậy vai trò của tôi chỉ đơn giản là kích động phong trào chứ không định lãnh đạo phong trào, cho nên chẳng ai điều khiển, xui khiến tôi thành con rối để quậy phá chế độ được. Tôi làm tất cả mọi việc theo sự thúc hối của bản thân, của lương tri, đâu có như cách nghĩ gàn dỏ và cố tình gán tù (Tú gàn ) của ông?
Hiện tại hình thức đấu tranh của chúng tôi là nửa bí mật, nửa công khai. Công an nếu cố tình vây ráp, khủng bố, thì bà con sẵn sàng chống đối lại, và chúng tôi cứ tiếp tục phản ánh mọi việc về bà con cho cả thế giới biết, để hồ sơ tội ác của cộng sản mỗi ngày một dày thêm. Khi tấm lưng -thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt của người dân oan ba miền - của đảng bị vạch trần ra cho cả thế giới xem, thì đảng bị xỉ nhục, và không sớm thì muộn cũng phải hạ bệ .
Ngày 25/12/2006 vừa qua, lần đầu tiên bà con được 700 USD để đón lễ giáng sinh tại vườn hoa, bao nhiêu bếp củi được tạo ra, bao nhiêu nồi xoong được tận dụng, bao nhiêu con người đói khổ được tụ hợp lại cùng ăn một bữa ăn ngon lành trong ngày lễ, bằng số tiền tài trợ của bà con Hải Ngoại( 400 USD của chị Hạ Uyên đài tiếng nước tôi ở Boston và uỷ ban liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam, 200 USD của Đảng Thăng Tiến, 100 USD của chị Chi (Mỹ)...Ngoài ra bà con còn được phát mỗi người 100.000 VND tại vườn hoa, ngay trước bữa ăn. Công an biết mà chẳng thể làm gì vì thời thế đã khác nhiều, dân chủ đã hé mở, tự do sắp bắt đầu, cộng sản đã lỗi thời, cho nên dù ông có lo sợ cho tôi và hội dân oan bị công an đàn áp đến tan rã thì cũng không nên qúa nhát sợ, võ đoán hàm hồ thế thưa ông
Việc nhận diện Nguyễn Khắc Toàn là một nhà cải cách chính trị hay một kẻ tị hiềm, phá đám. Một chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ hay chiến sĩ tiêu diệt đồng đội, tôi sẽ làm rõ với nội bộ và tổ chức dân chủ của mình. Vì vậy trong phần cuối của lá thư này, tôi chỉ có thể khẳng định một điều giúp ông là tôi không đụng độ ai cả, tôi có cả nghìn điều để đam mê trong cuộc đời này. Tâm hồn tôi là các tầng văn hoá phủ lên nhau, tôi cần phải khai thác hết mầu mỡ ở các tầng trên, sau đó sẽ tiếp tục đaò bới khai quật ở các tầng sâu hơn, ăn sâu vào mùi hương trầm tích để tạo tác phẩm, uy tín cho mình, đóng góp vài giọt đáng kể vào trõ mật văn chương của đời, chính vì thế, quỹ thời gian của tôi rất eo hẹp, áp lực công việc vô cùng lớn, tôi luôn phải làm việc trong tình trạng quá tải, nên chẳng có đâu ra thời gian để đụng độ, sinh sự với ai. Hơn nữa, tôi có nguyên tắc sống của mình. Ngay từ khi còn là Nguyễn Thái Hoàng, viết bài gửi Đàn Chim Việt đầu năm 2003, tôi đã khẳng định: "Thà chọc trời như chim báo bão, còn hơn bò sát đất như giun". Rất tiếc, trong lúc tôi đang "chọc trời" bay lên, lo cho xong việc thành lập hội dân oan thì có kẻ tiểu nhân, độc ác, chọc vào sườn tôi , cố tình kéo cả tảng bão đổ ụp xuống đầu tôi, bắt tôi phải gãy cánh ngang trời. Chính kẻ này đã tung tin thất thiệt là tôi nhận tiền của Hải ngoại (8000 USD) để dựng hội dân oan cho riêng mình. Chưa đủ, còn cố tình đưa tiền để xúi giục 3 kẻ đầu trò là Phạm thị Lộc, nhà sư Thích Đàm Thoa, Hồ thị Bích Khương làm đơn, rồi tụ tập chụp ảnh, tố cáo tôi, mua chữ ký của mỗi người dân oan với giá 5USD. Nhằm mục đích hạ nhục uy tín tôi, và mượn tay họ tống tôi vào tù cộng sản. Nhưng trời có mắt ông ạ, kẻ gieo gió độc, gió quẩn ắt phải gặt bão đen. Còn ươm trái ngọt, quả phúc, biết sống vì nghĩa lớn, luôn "cứu nhân độ thế" như tôi ắt sẽ được trời ban phước lành, thông qua những tấm lòng cảm thông của bà con, bạn bè trên khắp thế giới.
Thà dốt đặc lại hơn sáng lỏng, nếu ông đã biết rõ mọi điều, mọi việc, xin ông cứ thưa thớt cho bàn dân thiên hạ cùng nghe. Ngược lại, mới chỉ là sự "sáng lỏng", mong ông hãy cứ dựa cột nghe, kẻo bút sa, gà(n) chết... thưa ông!
Hà Nội 5-1-2007
T.K.T.T
hay phát ngôn loạn xì ngầu ?
Trần Khải Thanh Thuỷ
Gửi ông tú Gàn!
Lẽ ra tôi không nên trả lời ông vì ngay cái tên ông tự đặt cho mình đã nói lên sự gàn dở của ông rồi. Người khôn ngoan, không ai chấp người gàn, điều này ông có thể tham khảo 22 ý kiến bạn đọc nhận định về ông sau khi ông viết ra những điều bình loạn này. Nhưng thôi, để ông không mất công "trở lại vấn đề này trong một bài khác" như lời cuối bài ông nói, tôi đành bỏ chút thời gian trong quỹ thời gian vô cùng bận rộn, vì bị quá nhiều áp lực của tôi ra để hầu chuyện ông, như mấy tháng qua, tôi đã phải hầu đồn tại cơ quan an ninh từ bộ đến sở, quận, phường, cục(phản gián) vậy, dù tôi chẳng hứng thú gì.
Thứ nhất, ông nghe hơi nồi chõ ở đâu mà lại dám khẳng định nhà tôi ở huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội ? Sao sự "nghe hơi nồi chõ" này lại giống với sự hàm hồ của Nguyễn Khắc Toàn đến thế? Trong một bài viết về tôi và các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến, bị nhà cầm quyền tịch thu phương tiện làm việc, Toàn cũng viết vô cùng sai lệch như vậy, đến mức công an rút bài từ trên mạng xuống phải bảo: "Tưởng nhất nước chỉ có một bà Trần Khải Thanh Thuỷ nổi loạn, chống phá chính quyền, chửi đảng và công an đến cùng, nhà ở phường Đức Giang, quận Long Biên Hà Nội, hoá ra lại có thêm một bà Trần Khải Thanh Thuỷ nữa ở huyện Đông Anh, ngoại thành, cách xa Hà Nội những 40 km cơ à? Thế này thì anh em công an trực thuộc bộ vất vả qúa nhỉ, ngày nào cũng phải đi đi về về 80 km để làm việc với bà Trần Khải Thanh Thuỷ này thì biết bao kinh phí cho đủ?
Xin thưa với ông, tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cách trung tâm Bờ Hồ chưa đầy nửa km( Làng Phụng Cổ- nay là phố Nguyễn Du- quận Hoàn Kiếm Hà Nội) vì "hèn mẹ cha" mà không kê được chỗ đứng giữa lòng Hà Nội cho mình, đành phải lên khai sáng văn minh cho đồng bào dân tộc, làm một cô giáo... 4 tay, như lời bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: "Tay cầm phấn, tay cầm đàn, tay đóng bàn, tay đóng ghế") 29 tuổi về lại cửa ngõ thủ đô( Hà Tây) khát chồng như khát nước, nên vớ đại một ông "nông dân bao bạc", và buộc phải chấp nhận "kỷ nguyên chó nằm gầm trạn". 36 tuổi sang địa bàn phường Đức Giang mua đất, xây nhà và ở từ đó đến nay( tuy vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại nhà mẹ đẻ). Vì thế, nếu tôi có phát ngôn theo kiểu "thoáng hài" của mình là ...Hà Nội mở rộng , Hà Nội qúa đà đi chăng nữa, cũng chỉ cách trung tâm bờ hồ có 8,5 km thôi. Nếu là người làm báo chuyên nghiệp, không ai lại mắc một cái lỗi ngớ ngẩn như thế này . Râu ông phường Đức Giang (nội thành Hà Nội) cắm đùi bà huyện Đông Anh (ngoại thành) xa lơ lắc (khoảng 30 km) .Qủa là chuyện lạ.
Hơn nữa trong bài lại là một sự đánh lận con đen nữa. Làm sao khu tập thể tôi ở lại có thể ôm trùm cả hai nhà máy Diêm và Gỗ, mấy nghìn con người được? Có sự bùng nổ về nhân sự chăng?
Thực tế, nhà tôi ở sát bờ tường của Công ty Cổ phần Diêm Thống Nhất, đất của tôi là đất tư, chẳng dính líu gì đến nhà máy, công ty nào hết. Còn khu tập thể của công ty Diêm, cách xa khu tập thể của nhà máy gỗ cầu Đuống cả nửa km. Tất cả từ vườn trẻ, mẫu giáo chợ búa, sân vận động, nhà văn hoá ... đều tách riêng. Diêm ra diêm, gỗ ra gỗ chứ không thể nhập nhèm thế được. Nếu ông có cơ may về Hà Nội, tìm tôi theo cái địa chỉ ngớ ngẩn này hẳn đến khi đời sang tiểu cũng không tìm nổi. Nếu quả là ông viết theo lối viết hàm hồ của Nguyễn Khắc Toàn( trong bài đã dẫn) thì thật đáng tiếc. Chỉ một cú điện thoại nội hạt, chưa đầy 2.000 đồng trong vòng cả chục phút, Toàn có thể biết rõ địa chỉ nơi tôi cư trú, hoặc địa chỉ nhà mẹ đẻ -nơi tôi đăng ký hộ khẩu thường trú, nếu không, cũng nên bắc miệng hỏi các nhà dân chủ khác, hoặc gọi thẳng đến hội nhà văn mà hỏi, vì tôi có ghi rõ tên tuổi địa chỉ, số điện thoại ở đó. Song thói quen xấu của một người làm báo không chuyên, hay viết ẩu, viết lấy được, bất chấp sự chính xác của tư liệu, tin tức, địa điểm nên đã làm cho người đọc không tin mà chỉ tức. Về phần này ở trong nước đã có có rất nhiều lần bạn đọc lên tiếng rồi: "Hãy để người ta tin, đừng làm người ta tức"
Vì vậy, tôi xin nói rõ địa chỉ nhà tôi để ông ( hoặc Toàn) biết đã viết "cuội" đến mức nào: Trần Khải Thanh Thuỷ, số nhà 16, ngách 670/25 đường Ngô Gia Tự, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Tỉ mỉ hơn nữa là: tổ 45, khối 8, phường Đức Giang trực thuộc địa bàn quận Long Biên .
Về phần bị công an lục soát nhà cửa, tôi không chỉ mất cả trăm kg sách vở, cả nghìn đầu tài liệu, máy điện toán mà cả điện thoại di động, máy ghi âm, 8 đĩa CD và 22 đĩa mềm...Tất cả xếp chật chiếc xe tải huynđai loại vừa, thưa ông.
Điều thứ 2, tôi muốn đề cập trong bài viết là ông hãy lên giây đồng hồ sinh học cho mình, cho đúng với vòng quay thời đại. Sống trong lòng cộng sản lẽ nào tôi lại không hiểu cộng sản hơn một người đã may mắn rời xa cộng sản hàng vài chục năm như ông? Vì thế ba điều "tối kỵ" mà ông nói :
1.- Công khai tổ chức một cơ quan chống đối có nhiều người tham gia và theo một kế hoạch đã định sẵn.
2.- Công khai liên kết với các tổ chức khác, nhất là các tổ chức ở ngoại quốc.
3.- Công khai nhận tài trợ từ trong hay ngoài nước.
Cùng điều kết luận vội vàng của ông " Vì thế, sớm hay muộn, rồi bà cũng sẽ bị công an bắt và bị truy tố, và tổ chức sẽ bị phá tan." chỉ đúng một nửa, đó là việc tôi bị bắt lên hầu đồn thường xuyên, còn truy tố thì điều ấy có thể xảy ra cách đây vài ba năm, trước thời điểm 2005. Còn bây giờ- trước áp lực của các tổ chức nhân quyền quốc tế, trước cơ quan truyền thông và đồng bào Việt Kiều ở Hải ngoại, người cầm bút chân chính như tôi sẽ được bảo vệ. Hội dân oan Việt Nam sẽ được bà con đùm bọc cưu mang để không một thế lực thù địch, đen tối nào có thể phá vỡ, thưa ông. Thành thật đọc những dòng chữ này của ông tôi buồn qúa, trong nhịp quay hối hả của thời đại @, hội nhập toàn cầu, chỉ sau vài giờ đồng hồ là bài toán về tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đều phải thay đáp số một lần cho phù hợp, mà ông vẫn giữ riêng cho mình một lối lập luận cũ rích, phi lô gic, như thể trước thập kỷ 40, một lô xiềng xích phong kiến bao quanh đầu, cuốn chặt lấy cổ vậy. Còn tệ hơn cả thời Vũ Trọng Phụng, ví đám đông quần chúng như những con ruồi, bậu vào bộ máy nhà nước là con trâu mộng kềnh càng béo mập, chẳng làm được gì, chỉ cần đuôi trâu đập mạnh là nháo nhác bay lên, biến mất.
Nếu ai cũng sợ hãi và đề cao sức mạnh của cộng sản như ông, thì làm sao có các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến? Có khối 8406, có đảng dân chủ, Đảng Thăng Tiến, khối 64 bà con nhân dân Thái Bình ký vào bản ủng hộ nhân quyền cho Việt Nam? Có 58 con người không sợ chết ở Bắc Giang mà tác giả Đào văn Bình đã viết? Cũng chẳng thể có văn phòng luật sư Nguyễn văn Đài - địa chỉ đỏ của những tấm lòng từ thiện, chuyên tư vấn hoặc viết giúp đơn cho bà con...thưa ông. Thành thực những người này dũng cảm hơn tôi rất nhiều, vì đều là những người đi trước, dám đương đầu với cộng sản, dù bất cứ điều gì có thể xẩy ra. Còn tôi may mắn thay, ngày tôi chọn để ra mắt hội dân oan, cũng là lúc Mặt trận liên minh dân chủ Việt Nam đã thành lập, và tôi đưa cả hội vào trú ngụ trong mái nhà đó, để bà con đỡ bị đàn áp. Cho nên dưới con mắt ông, chúng tôi đều là những kẻ thiếu kinh nghiệm( nhưng thừa lòng nhiệt tình và dũng cảm) phải không ông. ?
Đúng là tôi chẳng có "kế hoạch, chiến lược và chiến thuật đã được nghiên cứu kỹ càng" nào trong việc viết bài giúp dân oan Việt Nam trước đó, và kêu gọi thành lập hội ngày 9-12 vừa rồi, đơn giản tôi là một nhà văn, một người viết, giỏi lý thuyết sách vở, coi lý thuyết như một ngọn đèn pha soi sáng thực tế tối mò trong cuộc sống, chứ không phải một nhà quân sự, nhà chính trị, nhà ngoại giao...Mèo chỉ giỏi bắt chuột chứ không thể kéo cày như trâu được, và ngược lại trâu cũng chỉ biết kéo cày chứ không thể thay mèo bắt chuột được. Chính vì biết sự hạn chế của mình cho nên tôi chỉ dám làm một thứ " mõ làng":
Loa! Loa! Loa! Loa
Bà con mình khổ
Bị đảng cưỡi cổ
Ai có tấm lòng
Hãy cứu dân oan
Đứng lên lật đổ"...
Loa! Loa! Loa! Loa...
Hẳn người tự cho là ..."tú khẩu cẩm tâm", học nhiều, hiểu rộng như ông không quên truyền thuyết về cậu bé Gióng vươn vai thành Phù Đổng Thiên Vương ở Việt Nam. Vì đói ăn mà 3 năm không biết nói, biết cười, chỉ đứng ngồi trơ trơ. Người dân oan Việt Nam cũng vậy, bao nhiêu năm bị đảng cướp bóc, cướp mất mái nhà che mưa che nắng trên đầu cùng mảnh ruộng cằn, đến mức sau nửa năm tiêu hết số tiền đền bù, chỉ còn cách cho con trai đi làm cửu vạn, cu li, con gái đi làm đĩ, bố mẹ già cả ra vườn hoa Mai Xuân Thưởng khiếu kiện. Những ngày đầu, lần đầu chỉ biết ngồi thu lu với nhau, chẳng biết kêu kiện gì. Hết tiền, hết gạo lại thui thủi về làng, rất tội. Chính vì lăn lóc viết bài cho họ cả một năm, nên tôi mới tự nguyện làm một thứ "mõ" hội - kêu gọi bà con Hải ngoại- vốn đã qúa hiểu về chế độ cộng sản cực kỳ độc tài, tàn ác, để thương yêu người "cùng bọc" với mình, những người còn kẹt lại trong vòng vây cộng sản- Khi nào "dân làng" Hải Ngoại góp đủ...7 nong cơm, 3 nong cà để "Gióng" ăn no, vươn vai thành Phù đổng, cưỡi "ngựa sắt, mặc áo giáp sắt, cầm thanh sắt", đập vào đầu giặc, thì lúc đó vai trò của sứ giả cũng chấm dứt. Chỉ có điều, trong chuyện cổ là giặc ngoại xâm, nên sứ giả là người của triều đình, còn trong thời điểm hiện tại, đất nước đang bị hoạ cộng sản, giặc nội xâm, nên tôi không thể là sứ giả của triều đình cộng sản mà chỉ là sứ giả hoà bình, người bắc loa kêu gọi bà con vì tương thân, tương ái mà giúp dân oan từ địa vị đói khổ, bệnh tật vì bị Đảng hành đứng thẳng lên làm người, đòi lại quyền lợi cho mình, cũng là xoá bỏ vai trò của đảng cộng sản, lập lại nền dân chủ tự do cho dân tộc Việt Nam.
Chính vì không ham hố gì trong việc thành lập này, nên tôi không phải hội trưởng, cũng chẳng là hội viên, càng không phải là người lãnh đạo. Chỉ trong những ngày đầu trứng nước, bà con chưa quen với việc tập hợp thành khối như hiện tại, nên tôi mới phải đứng ra để cùng các sáng lập viên gánh vác trách nhiệm, kêu gọi, động viên, giúp đỡ họ, cả về vật chất, tinh thần, cho đến khi hội trưởng, hội phó cùng các ban điều hành của 64 tỉnh thành cả nước phối hợp nhịp nhàng, ăn ý với nhau, thì tôi sẽ lại tiếp tục trở về với ngôi đền thi ca của mình.
Bởi ông đã trích dẫn lời Voltaire, nhà văn và nhà cách mạng ” Nhiệt tình là hoa của tuổi trẻ mà sự thất vọng là kết quả" thì tôi cũng khẳng định điều này, thưa ông: "Tư tưởng là hạt giống của hành động", nếu tư tưởng chín chắn( vì tôi đâu còn trẻ) hợp lòng người, đạo trời thì hạt giống nhất định sẽ nầy mầm thành chồi, thành cây xum xuê tươi tốt. Vì vậy, ông chớ có vội mừng thầm vì lầm tưởng chúng tôi sẽ thất vọng. Tóm lại 31 năm sau "chiến thắng" năm 1975, dân tộc Việt Nam vẫn chìm trong tăm tối, bởi quan trí thì thấp mà dân khí thì hèn. Lẽ nào ông cứ muốn tất cả họ -những người dân oan Việt Nam , cùng các nhà dân chủ ngồi trong bóng tối mãi sao?
Việc đề cử các sáng lập viên -theo quan niệm của tôi, hễ ai là người Việt Nam (dù trong hay ngoài nước) mà có tâm, có tầm, có thể cứu giúp bà con, đều là thành viên của ban sáng lập. Càng nhiều người ở nhiều nước trên thế giới càng có thể nối vòng tay lớn, càng có lợi cho bà con. Khung thẩm mỹ của người Việt rộng, nhưng bất cứ việc gì, hễ mang nhân tính, mầm thiện đều là chính danh. Còn người trong nước như ông nhận định: "Vừa phải đối đầu với cộng sản, vừa phải cảnh giác với những âm mưu đen tối của một vài kẻ cùng trong hàng ngũ", để rồi sinh sự, sự sinh. Như thế là hổ danh chứ chính danh gì?
Xem ra về mức độ hàm hồ ông còn vượt xa cả những kẻ hàm hồ khác. Bản thân tôi chỉ là "một tấm lòng trong vạn tấm lòng" yêu quê hương, đất nước, thương bà con cô bác ba miền nên tự nguyện đứng ra cứu giúp bà con thành lập một bộ khung cho hội, để mọi người cùng ngồi vào, tạo nên sức mạnh đoàn kết, sức mạnh của quần chúng, của đám đông, cuả tập thể, để đòi lại quyền làm người cho mình. Vì vậy vai trò của tôi chỉ đơn giản là kích động phong trào chứ không định lãnh đạo phong trào, cho nên chẳng ai điều khiển, xui khiến tôi thành con rối để quậy phá chế độ được. Tôi làm tất cả mọi việc theo sự thúc hối của bản thân, của lương tri, đâu có như cách nghĩ gàn dỏ và cố tình gán tù (Tú gàn ) của ông?
Hiện tại hình thức đấu tranh của chúng tôi là nửa bí mật, nửa công khai. Công an nếu cố tình vây ráp, khủng bố, thì bà con sẵn sàng chống đối lại, và chúng tôi cứ tiếp tục phản ánh mọi việc về bà con cho cả thế giới biết, để hồ sơ tội ác của cộng sản mỗi ngày một dày thêm. Khi tấm lưng -thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt của người dân oan ba miền - của đảng bị vạch trần ra cho cả thế giới xem, thì đảng bị xỉ nhục, và không sớm thì muộn cũng phải hạ bệ .
Ngày 25/12/2006 vừa qua, lần đầu tiên bà con được 700 USD để đón lễ giáng sinh tại vườn hoa, bao nhiêu bếp củi được tạo ra, bao nhiêu nồi xoong được tận dụng, bao nhiêu con người đói khổ được tụ hợp lại cùng ăn một bữa ăn ngon lành trong ngày lễ, bằng số tiền tài trợ của bà con Hải Ngoại( 400 USD của chị Hạ Uyên đài tiếng nước tôi ở Boston và uỷ ban liên minh dân chủ nhân quyền Việt Nam, 200 USD của Đảng Thăng Tiến, 100 USD của chị Chi (Mỹ)...Ngoài ra bà con còn được phát mỗi người 100.000 VND tại vườn hoa, ngay trước bữa ăn. Công an biết mà chẳng thể làm gì vì thời thế đã khác nhiều, dân chủ đã hé mở, tự do sắp bắt đầu, cộng sản đã lỗi thời, cho nên dù ông có lo sợ cho tôi và hội dân oan bị công an đàn áp đến tan rã thì cũng không nên qúa nhát sợ, võ đoán hàm hồ thế thưa ông
Việc nhận diện Nguyễn Khắc Toàn là một nhà cải cách chính trị hay một kẻ tị hiềm, phá đám. Một chiến sĩ đấu tranh cho dân chủ hay chiến sĩ tiêu diệt đồng đội, tôi sẽ làm rõ với nội bộ và tổ chức dân chủ của mình. Vì vậy trong phần cuối của lá thư này, tôi chỉ có thể khẳng định một điều giúp ông là tôi không đụng độ ai cả, tôi có cả nghìn điều để đam mê trong cuộc đời này. Tâm hồn tôi là các tầng văn hoá phủ lên nhau, tôi cần phải khai thác hết mầu mỡ ở các tầng trên, sau đó sẽ tiếp tục đaò bới khai quật ở các tầng sâu hơn, ăn sâu vào mùi hương trầm tích để tạo tác phẩm, uy tín cho mình, đóng góp vài giọt đáng kể vào trõ mật văn chương của đời, chính vì thế, quỹ thời gian của tôi rất eo hẹp, áp lực công việc vô cùng lớn, tôi luôn phải làm việc trong tình trạng quá tải, nên chẳng có đâu ra thời gian để đụng độ, sinh sự với ai. Hơn nữa, tôi có nguyên tắc sống của mình. Ngay từ khi còn là Nguyễn Thái Hoàng, viết bài gửi Đàn Chim Việt đầu năm 2003, tôi đã khẳng định: "Thà chọc trời như chim báo bão, còn hơn bò sát đất như giun". Rất tiếc, trong lúc tôi đang "chọc trời" bay lên, lo cho xong việc thành lập hội dân oan thì có kẻ tiểu nhân, độc ác, chọc vào sườn tôi , cố tình kéo cả tảng bão đổ ụp xuống đầu tôi, bắt tôi phải gãy cánh ngang trời. Chính kẻ này đã tung tin thất thiệt là tôi nhận tiền của Hải ngoại (8000 USD) để dựng hội dân oan cho riêng mình. Chưa đủ, còn cố tình đưa tiền để xúi giục 3 kẻ đầu trò là Phạm thị Lộc, nhà sư Thích Đàm Thoa, Hồ thị Bích Khương làm đơn, rồi tụ tập chụp ảnh, tố cáo tôi, mua chữ ký của mỗi người dân oan với giá 5USD. Nhằm mục đích hạ nhục uy tín tôi, và mượn tay họ tống tôi vào tù cộng sản. Nhưng trời có mắt ông ạ, kẻ gieo gió độc, gió quẩn ắt phải gặt bão đen. Còn ươm trái ngọt, quả phúc, biết sống vì nghĩa lớn, luôn "cứu nhân độ thế" như tôi ắt sẽ được trời ban phước lành, thông qua những tấm lòng cảm thông của bà con, bạn bè trên khắp thế giới.
Thà dốt đặc lại hơn sáng lỏng, nếu ông đã biết rõ mọi điều, mọi việc, xin ông cứ thưa thớt cho bàn dân thiên hạ cùng nghe. Ngược lại, mới chỉ là sự "sáng lỏng", mong ông hãy cứ dựa cột nghe, kẻo bút sa, gà(n) chết... thưa ông!
Hà Nội 5-1-2007
T.K.T.T
Nước mắt rưng rưng - thư viết giữa đỉnh trời...
15 Tháng Mười Hai 2006
Trần Khải Thanh Thuỷ
Cho đến bây giờ, trong tay tôi có tới 50 giấy "mời" của công an phường Đức Giang và phường Trung Liệt, nơi tôi tá túc và tạm vắng suốt 3 tháng trời qua (kể từ đêm 2-9 định mệnh), nghĩa là cứ trung bình hai ngày tôi nhân được một tờ trát, cũng là lệnh truy nã đặc biệt, lệnh bắt khẩn cấp để lên đồn trình diện... trình cả cái cơ thể ốm yếu, bệnh tật vì bao năm vắt mình kiệt quệ để tồn tại trong bối cảnh "cá lớn nuốt cá bé", thằng dốt trị thằng giỏi, "văn chương hạ giới rẻ như bèo" của đảng cộng sản, cũng là trình cái tư tưởng "trây ì, "nổi loạn" không chịu "bó thân về với triều đình" của mình. Kể từ 2002 khi bị bắt lần thứ nhất, cho đến nay, bị bắt đến lần thứ 3, bị khám nhà, lục lọi, dạy dỗ, đe nẹt, hoạnh hoẹ, sách nhiễu đủ điều, đủ kiểu mà vẫn không chừa, vẫn hô khẩu hiệu:
Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm...
Hồ Chí Minh muôn năm...bị nhân dân Việt Nam nguyền rủa.
Thà chết đứng còn hơn sống quỳ, thà làm Từ Hải trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của lũ khốn mà giữ được khí tiết, phẩm giá mình, còn hơn là Thúc Sinh trong vòng tay của lũ tú bà, đảng quỷ, bị thiến hết tư cách, danh dự, nhân quyền.
Ngược lại với sự hoạnh hoẹ sách nhiễu của đảng, là tấm lòng của bà con anh em Hải ngoại, thông qua 50 tấm giấy nhận tiền, lĩnh tiền, biên nhận... Người ít 20 USD, người nhiều 50, 100 USA, thậm chí có cả nhóm bạn, tổ chức gửi về cho tôi 500 USA hoặc 500 UDA. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là đồng đô của Úc, đồng Euruo của Châu Âu, đồng bảng của Anh. Cũng lần đầu tiên trong căn phòng nhỏ của mẹ tôi tập trung đủ chất giọng của ba miền Trung, Nam, Bắc. Từ người miền Bắc di cư 1954, đến người miền Nam gốc Trung hoặc miền Nam thuần tuý. Trong ngày sinh của mình, dù không hề thông báo cho ai biết, chỉ qua bài thơ nhỏ do anh Trúc Lê post trên mạng VietLand, tôi nhận được không dưới 20 cú điện thoại chúc mừng, từ Úc, Mỹ, Đức, Pháp, Anh gọi về... Riêng mảnh đất Úc bé nhỏ, nơi vẻn vẹn 19 triệu dân có đủ cả Nam Úc, Sydney, Melbourn, Úc đại lợi v.v... Một vùng đất mà tôi chưa hề đặt chân tới song đã biết đó thực sự là thiên đường của hạ giới, nơi không có người áp bức, bóc lột người, nơi tự do và tri thức ngự trị, nơi bữa ăn của tổng thống và dân thường như nhau, cũng là nơi phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, nơi hội tụ những tấm lòng tri âm tri kỷ nhất. Chỉ riêng số tiền mà cả đối tượng công nhân, nông dân, kỹ sư, tiến sĩ, quyên góp đã là 1500 UDA để tôi có tiền chữa bệnh cho mình, đóng học cho con, thậm chí thuê một chỗ ở mới tại trung tâm thành phố để tránh hoạ cộng sản.
Bài thơ "đời mình" của tôi vang lên đúng ngày sinh nhật, qua muôn trùng sóng vỗ, qua lớp lớp biển mây, qua trùng trùng sương khói, làm tôi cảm động chảy nước mắt. Vẫn biết thơ 5 chữ dễ làm, giàu nhạc điệu, dễ phổ thơ, song thơ tôi đầy nước mắt, lại trúc trắc, góc cạnh, nặng triết lý nhân sinh, bao nỗi đau thế thái nhân tình, đau cho mình, đau cho đời, sao đôi cánh âm nhạc vẫn tải được? Tâm hồn người nhạc sĩ mông mênh, sâu nặng đến thế sao? Vừa phổ được thơ tôi thành nhạc, vừa tải cả hồn tôi đi chu du bốn bể, năm châu, sáu lục, đến trú ngụ trong tình thương bao la của cộng đồng, những người bạn tôi chưa hề biết mặt, chỉ loáng thoáng biết tên mà chỉ cần nghe giọng nói, những ngôn ngữ mang nặng âm điệu quê hương đã làm tôi ấm lòng, trái tim muốn vỡ ra vì vui mừng, cảm động, khiến tôi không thể không cầm bút: "Nước mắt rưng rưng, thư viết giữa đỉnh trời".
Đỉnh trời là căn hộ nhỏ nhoi chật hẹp tận tầng 3 khu tập thể, nơi mẹ tôi phải đổi bằng cả 38 năm trời công tác, cống hiến, cùng gia sản một đời của ông bà để lại tại trung tâm bờ hồ mới có được, cũng là nơi tôi tìm về trú ngụ, sau khi tổ ấm của mình nơi ngoại ô bị xé nát tan tành dưới bàn tay đảng quỷ. 28 ngày trời, phải xa chồng, lìa con, rời bỏ nơi mình đã từng gắn bó thân thiết, nơi trái tim tôi âm thầm ca hát, nơi tâm hồn tôi vật vã, bon chen để viết nên những tác phẩm nghệ thuật cho đời, cho mình... lòng tôi đau như cắt. Bình thường thời gian trôi nhanh như lùa ngựa trên đồng cỏ, một ngày vẻn vẹn 24 tiếng, một tiếng vẻn vẹn 3600 giây. Tôi chưa kịp tiêu gì ra món, đã hết veo hai phần ba cuộc đời. Bây giờ thời gian như cật nứa, cứa lòng mình nát tan... một mình trong căn phòng 9 m2, quay phải là ta, quay trái cũng là ta, trông trước trông sau cũng chỉ một mình, bao nhiêu giọt nước mắt rơi trong cõi lòng sâu thẳm u tịch trước cảnh đời đen tối:
Giang sơn chan chứa đôi hàng lệ.
Mình vẫn cô đơn giữa đỉnh trời.. . Giờ nhận được những tấm lòng đồng tình, xẻ chia, nước mắt lập tức lăn nghiêng về phía có nụ cười, rưng rưng nỗi niềm tình cảm, yêu thương, khích lệ, vui mừng, khó bút nào tả được.
Lệ thường, sống trong lòng xã hội cộng sản, người tài không có đất dụng võ. Hoa thường héo, cỏ thường tươi. Đời người phụ nữ ví như đời cây, bao lần oằn mình trước giông gió, tự che chắn cho mình và cho cả đàn con, tích nhựa thành những đường vân xoắn kết trong ruột, tiết hương thơm cho đời. Song thứ hoa nằm trong biên chế, trong guồng quay của nhà nước còn chẳng ăn ai nữa là hoa nằm ngoài danh mục như tôi. Dẫu có là thân quế, thì giữa rừng người, dòng đời ồn ã, ô trọc vẫn là cảnh "Ngát hương ai biết thơm lừng ai hay."
Nhờ cộng sản dồn vào tận ngõ cụt của sự sống, cắt internet, cướp trắng computer, giật điện thoại di động hết lần này đến lần khác, xúi đám đầu gấu qúa khích vào phá nhà, đập cửa sổ, làm sập giường, kèm hành hung, lăng mạ, xé giấy tờ, tài liệu, sách vở hai lần, cùng việc đấu tố giữa sân vận động của khu tập thể, mà tôi được cả cộng đồng Hải ngoại biết tới. Ngoài việc chăm chút, yêu thương, đùm bọc, che chắn, còn gửi gắm cả niềm tin lẽ phải, để hương tôi được ngát, mùi thơm của cây đời tôi được lừng... Xung quanh tôi bây giờ hiển hiện những tấm lòng của bà con, anh, em, chú bác, cô, dì... Từ bình ô xy tôi thở, viên thuốc tôi uống, chiếc chiếu tôi nằm (chiếu cũ đã bị cả mấy chục bàn chân thô thiển mang nguyên giày trèo lên hành hung, doạ dẫm)... hoa quả tôi ăn... tất cả đều có nguồn gốc từ số tiền bà con Hải ngoại nhường cơm xẻ áo cho. Người âm thầm góp vào hội bảo vệ của các anh Trúc Lê - Phương Duy - Phùng Mai tại Úc, người tuyên bố trên mạng Internet: "Tôi sẽ gửi tiền về để vợ chồng chị ấy mua thuốc chữa bệnh và sắm giường chiếu mới, xem công an đảng còn giở được trò gì? Thử hỏi có nơi đâu trên thế giới này còn áp dụng lối hành xử man rợ như cộng sản Việt Nam không?
Vì vậy dù biết rõ giới hạn của mình, chỉ là một nữ nhi, lại đã qua tuổi "oanh" để đến với tuổi "liệt". Chưa phải tro than, song cũng không còn là lửa. Chỉ là một sự qúa độ, lưng chừng, song tôi vẫn quyết làm một hòn than ngậm lửa để toả sáng cho mình, cho đời, vực một phần sự sống và tương lai dân tộc lên trên trang giấy mỏng manh, treo những vần thơ vẫy gọi - như những lá cờ vàng trên đầu ngòi bút... để lớp trẻ hướng đến, tìm về, bước theo, xốc tới...
Để làm được điều này, ngoài việc oằn mình che chắn cho hòn than ngậm lửa trong tâm hồn mình không bao giờ tắt (cho dù đảng có xua cả đám công an đem nước bẩn, gió độc đến dập lửa đi chăng nữa) tôi luôn vững tin vào hàng triệu ngôi sao sáng nhấp nháy nơi bầu trời, bởi đó chính là tấm lòng của ba triệu bà con anh em việt Kiều nơi Hải ngoại -một lòng, một dạ hướng về đất nước quê hương, cội nguồn của dân tộc, để bóng đêm nô lệ không thể tồn tại trên mảnh đất cha ông. Khi mặt đất và bầu trời cùng chung ý, chung lòng, thì hoạ cộng sản làm sao tiếp diễn nổi? Chúng tôi những nhà dân chủ, những người bất đồng chính kiến, những mảnh đời lầm lũi oan khiên, tự thắp lửa cho mình, không cho lửa tắt trên mặt đất. Còn bà con, anh em Hải ngoại - những ánh sao xa hội tụ trên bầu trời, luôn chiếu sáng hỗ trợ, gọi 81,2 triệu người dân trong nước bừng thức để hiểu rằng dân chủ đang gần kề, mặt đất không còn là bóng đêm nô lệ, vì ngoài ngọn lửa của hàng trăm, hàng nghìn người con dũng cảm tự thắp sáng trong đêm, giữa lòng dân tộc, còn hàng triệu ánh sao đang nhấp nháy trên trời cao. Mặt đất sẽ yên bình, hoa tự do sắp nở, gà độc lập gáy sáng... Những con thú người, người thú là 3 triệu đảng viên đảng cộng sản sẽ tuyệt diệt trên mặt đất, trở về với bóng đêm ma quỷ, nơi thần chết ngự trị, nơi oan hồn của triệu triệu người dân đã đào sẵn huyệt mộ, nhiệt liệt đón chào.
Bài viết nhỏ này cũng là một nén hương muộn tôi bày tỏ trước 850.000 con người vùi mình nơi biển thẳm, những con người với trái tim Đan cô, vì hoạ cộng sản phải đi tìm tự do mà không may bị thần biển vào hùa với đảng cộng sản vùi sâu dưới đáy mồ oan nghiệt.
Cầu xin họ hãy phù hộ độ trì cho tôi và tất cả các nhà dân chủ có đủ sức khoẻ và nghị lực để thực hiện được ước nguyện tự do của đời mình, vực sự sống và tương lai dân tộc lên trang giấy trắng, coi số phận của dân tộc cao hơn số phận đời mình...
Đỉnh trời 26-11-2006
(Sinh nhật lần thứ 46)
Trần Khải Thanh Thuỷ
Cho đến bây giờ, trong tay tôi có tới 50 giấy "mời" của công an phường Đức Giang và phường Trung Liệt, nơi tôi tá túc và tạm vắng suốt 3 tháng trời qua (kể từ đêm 2-9 định mệnh), nghĩa là cứ trung bình hai ngày tôi nhân được một tờ trát, cũng là lệnh truy nã đặc biệt, lệnh bắt khẩn cấp để lên đồn trình diện... trình cả cái cơ thể ốm yếu, bệnh tật vì bao năm vắt mình kiệt quệ để tồn tại trong bối cảnh "cá lớn nuốt cá bé", thằng dốt trị thằng giỏi, "văn chương hạ giới rẻ như bèo" của đảng cộng sản, cũng là trình cái tư tưởng "trây ì, "nổi loạn" không chịu "bó thân về với triều đình" của mình. Kể từ 2002 khi bị bắt lần thứ nhất, cho đến nay, bị bắt đến lần thứ 3, bị khám nhà, lục lọi, dạy dỗ, đe nẹt, hoạnh hoẹ, sách nhiễu đủ điều, đủ kiểu mà vẫn không chừa, vẫn hô khẩu hiệu:
Đảng cộng sản Việt Nam muôn năm...
Hồ Chí Minh muôn năm...bị nhân dân Việt Nam nguyền rủa.
Thà chết đứng còn hơn sống quỳ, thà làm Từ Hải trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của lũ khốn mà giữ được khí tiết, phẩm giá mình, còn hơn là Thúc Sinh trong vòng tay của lũ tú bà, đảng quỷ, bị thiến hết tư cách, danh dự, nhân quyền.
Ngược lại với sự hoạnh hoẹ sách nhiễu của đảng, là tấm lòng của bà con anh em Hải ngoại, thông qua 50 tấm giấy nhận tiền, lĩnh tiền, biên nhận... Người ít 20 USD, người nhiều 50, 100 USA, thậm chí có cả nhóm bạn, tổ chức gửi về cho tôi 500 USA hoặc 500 UDA. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết thế nào là đồng đô của Úc, đồng Euruo của Châu Âu, đồng bảng của Anh. Cũng lần đầu tiên trong căn phòng nhỏ của mẹ tôi tập trung đủ chất giọng của ba miền Trung, Nam, Bắc. Từ người miền Bắc di cư 1954, đến người miền Nam gốc Trung hoặc miền Nam thuần tuý. Trong ngày sinh của mình, dù không hề thông báo cho ai biết, chỉ qua bài thơ nhỏ do anh Trúc Lê post trên mạng VietLand, tôi nhận được không dưới 20 cú điện thoại chúc mừng, từ Úc, Mỹ, Đức, Pháp, Anh gọi về... Riêng mảnh đất Úc bé nhỏ, nơi vẻn vẹn 19 triệu dân có đủ cả Nam Úc, Sydney, Melbourn, Úc đại lợi v.v... Một vùng đất mà tôi chưa hề đặt chân tới song đã biết đó thực sự là thiên đường của hạ giới, nơi không có người áp bức, bóc lột người, nơi tự do và tri thức ngự trị, nơi bữa ăn của tổng thống và dân thường như nhau, cũng là nơi phong trào đấu tranh dân chủ cho Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, nơi hội tụ những tấm lòng tri âm tri kỷ nhất. Chỉ riêng số tiền mà cả đối tượng công nhân, nông dân, kỹ sư, tiến sĩ, quyên góp đã là 1500 UDA để tôi có tiền chữa bệnh cho mình, đóng học cho con, thậm chí thuê một chỗ ở mới tại trung tâm thành phố để tránh hoạ cộng sản.
Bài thơ "đời mình" của tôi vang lên đúng ngày sinh nhật, qua muôn trùng sóng vỗ, qua lớp lớp biển mây, qua trùng trùng sương khói, làm tôi cảm động chảy nước mắt. Vẫn biết thơ 5 chữ dễ làm, giàu nhạc điệu, dễ phổ thơ, song thơ tôi đầy nước mắt, lại trúc trắc, góc cạnh, nặng triết lý nhân sinh, bao nỗi đau thế thái nhân tình, đau cho mình, đau cho đời, sao đôi cánh âm nhạc vẫn tải được? Tâm hồn người nhạc sĩ mông mênh, sâu nặng đến thế sao? Vừa phổ được thơ tôi thành nhạc, vừa tải cả hồn tôi đi chu du bốn bể, năm châu, sáu lục, đến trú ngụ trong tình thương bao la của cộng đồng, những người bạn tôi chưa hề biết mặt, chỉ loáng thoáng biết tên mà chỉ cần nghe giọng nói, những ngôn ngữ mang nặng âm điệu quê hương đã làm tôi ấm lòng, trái tim muốn vỡ ra vì vui mừng, cảm động, khiến tôi không thể không cầm bút: "Nước mắt rưng rưng, thư viết giữa đỉnh trời".
Đỉnh trời là căn hộ nhỏ nhoi chật hẹp tận tầng 3 khu tập thể, nơi mẹ tôi phải đổi bằng cả 38 năm trời công tác, cống hiến, cùng gia sản một đời của ông bà để lại tại trung tâm bờ hồ mới có được, cũng là nơi tôi tìm về trú ngụ, sau khi tổ ấm của mình nơi ngoại ô bị xé nát tan tành dưới bàn tay đảng quỷ. 28 ngày trời, phải xa chồng, lìa con, rời bỏ nơi mình đã từng gắn bó thân thiết, nơi trái tim tôi âm thầm ca hát, nơi tâm hồn tôi vật vã, bon chen để viết nên những tác phẩm nghệ thuật cho đời, cho mình... lòng tôi đau như cắt. Bình thường thời gian trôi nhanh như lùa ngựa trên đồng cỏ, một ngày vẻn vẹn 24 tiếng, một tiếng vẻn vẹn 3600 giây. Tôi chưa kịp tiêu gì ra món, đã hết veo hai phần ba cuộc đời. Bây giờ thời gian như cật nứa, cứa lòng mình nát tan... một mình trong căn phòng 9 m2, quay phải là ta, quay trái cũng là ta, trông trước trông sau cũng chỉ một mình, bao nhiêu giọt nước mắt rơi trong cõi lòng sâu thẳm u tịch trước cảnh đời đen tối:
Giang sơn chan chứa đôi hàng lệ.
Mình vẫn cô đơn giữa đỉnh trời.. . Giờ nhận được những tấm lòng đồng tình, xẻ chia, nước mắt lập tức lăn nghiêng về phía có nụ cười, rưng rưng nỗi niềm tình cảm, yêu thương, khích lệ, vui mừng, khó bút nào tả được.
Lệ thường, sống trong lòng xã hội cộng sản, người tài không có đất dụng võ. Hoa thường héo, cỏ thường tươi. Đời người phụ nữ ví như đời cây, bao lần oằn mình trước giông gió, tự che chắn cho mình và cho cả đàn con, tích nhựa thành những đường vân xoắn kết trong ruột, tiết hương thơm cho đời. Song thứ hoa nằm trong biên chế, trong guồng quay của nhà nước còn chẳng ăn ai nữa là hoa nằm ngoài danh mục như tôi. Dẫu có là thân quế, thì giữa rừng người, dòng đời ồn ã, ô trọc vẫn là cảnh "Ngát hương ai biết thơm lừng ai hay."
Nhờ cộng sản dồn vào tận ngõ cụt của sự sống, cắt internet, cướp trắng computer, giật điện thoại di động hết lần này đến lần khác, xúi đám đầu gấu qúa khích vào phá nhà, đập cửa sổ, làm sập giường, kèm hành hung, lăng mạ, xé giấy tờ, tài liệu, sách vở hai lần, cùng việc đấu tố giữa sân vận động của khu tập thể, mà tôi được cả cộng đồng Hải ngoại biết tới. Ngoài việc chăm chút, yêu thương, đùm bọc, che chắn, còn gửi gắm cả niềm tin lẽ phải, để hương tôi được ngát, mùi thơm của cây đời tôi được lừng... Xung quanh tôi bây giờ hiển hiện những tấm lòng của bà con, anh, em, chú bác, cô, dì... Từ bình ô xy tôi thở, viên thuốc tôi uống, chiếc chiếu tôi nằm (chiếu cũ đã bị cả mấy chục bàn chân thô thiển mang nguyên giày trèo lên hành hung, doạ dẫm)... hoa quả tôi ăn... tất cả đều có nguồn gốc từ số tiền bà con Hải ngoại nhường cơm xẻ áo cho. Người âm thầm góp vào hội bảo vệ của các anh Trúc Lê - Phương Duy - Phùng Mai tại Úc, người tuyên bố trên mạng Internet: "Tôi sẽ gửi tiền về để vợ chồng chị ấy mua thuốc chữa bệnh và sắm giường chiếu mới, xem công an đảng còn giở được trò gì? Thử hỏi có nơi đâu trên thế giới này còn áp dụng lối hành xử man rợ như cộng sản Việt Nam không?
Vì vậy dù biết rõ giới hạn của mình, chỉ là một nữ nhi, lại đã qua tuổi "oanh" để đến với tuổi "liệt". Chưa phải tro than, song cũng không còn là lửa. Chỉ là một sự qúa độ, lưng chừng, song tôi vẫn quyết làm một hòn than ngậm lửa để toả sáng cho mình, cho đời, vực một phần sự sống và tương lai dân tộc lên trên trang giấy mỏng manh, treo những vần thơ vẫy gọi - như những lá cờ vàng trên đầu ngòi bút... để lớp trẻ hướng đến, tìm về, bước theo, xốc tới...
Để làm được điều này, ngoài việc oằn mình che chắn cho hòn than ngậm lửa trong tâm hồn mình không bao giờ tắt (cho dù đảng có xua cả đám công an đem nước bẩn, gió độc đến dập lửa đi chăng nữa) tôi luôn vững tin vào hàng triệu ngôi sao sáng nhấp nháy nơi bầu trời, bởi đó chính là tấm lòng của ba triệu bà con anh em việt Kiều nơi Hải ngoại -một lòng, một dạ hướng về đất nước quê hương, cội nguồn của dân tộc, để bóng đêm nô lệ không thể tồn tại trên mảnh đất cha ông. Khi mặt đất và bầu trời cùng chung ý, chung lòng, thì hoạ cộng sản làm sao tiếp diễn nổi? Chúng tôi những nhà dân chủ, những người bất đồng chính kiến, những mảnh đời lầm lũi oan khiên, tự thắp lửa cho mình, không cho lửa tắt trên mặt đất. Còn bà con, anh em Hải ngoại - những ánh sao xa hội tụ trên bầu trời, luôn chiếu sáng hỗ trợ, gọi 81,2 triệu người dân trong nước bừng thức để hiểu rằng dân chủ đang gần kề, mặt đất không còn là bóng đêm nô lệ, vì ngoài ngọn lửa của hàng trăm, hàng nghìn người con dũng cảm tự thắp sáng trong đêm, giữa lòng dân tộc, còn hàng triệu ánh sao đang nhấp nháy trên trời cao. Mặt đất sẽ yên bình, hoa tự do sắp nở, gà độc lập gáy sáng... Những con thú người, người thú là 3 triệu đảng viên đảng cộng sản sẽ tuyệt diệt trên mặt đất, trở về với bóng đêm ma quỷ, nơi thần chết ngự trị, nơi oan hồn của triệu triệu người dân đã đào sẵn huyệt mộ, nhiệt liệt đón chào.
Bài viết nhỏ này cũng là một nén hương muộn tôi bày tỏ trước 850.000 con người vùi mình nơi biển thẳm, những con người với trái tim Đan cô, vì hoạ cộng sản phải đi tìm tự do mà không may bị thần biển vào hùa với đảng cộng sản vùi sâu dưới đáy mồ oan nghiệt.
Cầu xin họ hãy phù hộ độ trì cho tôi và tất cả các nhà dân chủ có đủ sức khoẻ và nghị lực để thực hiện được ước nguyện tự do của đời mình, vực sự sống và tương lai dân tộc lên trang giấy trắng, coi số phận của dân tộc cao hơn số phận đời mình...
Đỉnh trời 26-11-2006
(Sinh nhật lần thứ 46)
Thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi
Hội nghị APEC họp, Hà Nội bắt đầu vào đông, dẫu không phải cảnh lạnh thấu xương, rét quắt tai, tái môi, lòi mắt (vì khăn len, mũ len che kín măt), phải xuýt xoa, hít hà, thở phì phà ra khói như mọi mùa đông khắc nghiệt khác, song không hiểu sao lại có mưa đá? Cơn mưa trái mùa như một điềm gở báo hiệụ sự bại vong của triều đình cộng sản, một triều đình đã để lại qúa nhiều tội ác với dân tộc Việt Nam, đặc biệt là ngành giáo dục ... Muốn đi tới các nhà dân chủ cũng không được (Có đủ cả 1001 lý do để công an chặn cửa, bít cổng, quây kín chân cầu thang), đành sùm sụp khăn áo trong nhà, nằm dài như một con mèo lười để rồi thừa giấy làm chi chẳng vẽ voi, theo lời kêu gọi của Đàn Chim Việt, khi mở cuộc thi “viết về đề tài giáo dục” mà không khỏi bàng hoàng vì “con voi” mình sắp vẽ – tuy đủ cả đầu, đuôi, đủ cả vòi, hàng năm ăn một lượng tiền khổng lồ của ngân sách nhà nước nhưng xem ra ngu đần qúa thể. Không biết lỗi tại nó: Con bỏi con boi, cái bòi đi trước – như trẻ em vẫn hát đồng dao hay lỗi tại người... chăn voi?
Tình hình gíao dục ở Việt Nam, quả thật đã ở mức báo động, nếu tính dấu mốc từ thời điểm giữa thập kỷ 80 – đổi mới cơ chế đến nay, bất cứ kỳ họp nào của quốc hội cũng sôi lên sùng sục khi bàn về vấn đề giáo dục. Nào đầu tư, thu chi ngân sách, tăng cường chế độ lương, thưởng, đổi mới chất lượng sách giáo khoa, điều chỉnh sự mất cân đối giữa miền xuôi và miền ngược, song ra khỏi cửa hội trường, lĩnh phong bì, suất ăn tươi, xe ô tô đưa về nhà rồi là tất cả lại mắc kê nô hết, mặc chất lượng giáo dục trôi nổi hoặc chìm nghỉm ở tận đâu. Có thế lần họp Cuốc hội sau còn có cái để mà bàn (dù là thảo luận sôi nổi những vấn đề đã đề cập từ lần trước, vẫn có ích hơn làm một bộ máy “nghị gật”, “vỗ tay”).
Đến hẹn lại nên, lần thảo luận nào, không khí trong hội nghị cũng “sôi” để rồi ra khỏi cửa là nguội lạnh và thả...nổi luôn. Bao nhiêu giải pháp quyết sách mạnh mẽ để giáo dục xứng đáng là quốc sách hàng đầu bị bỏ qua, khi quay về với nhà trường, giáo viên và học sinh, lại nghiễm nhiên trở thành... xách cuốc, như thơ nhại của cánh sinh viên:
Người học trò nghèo góp cho đất nước mình...dáng hình xách cuốc
Đời lắt lay như cọng cỏ, con sâu
Ước mơ chôn trong cực khổ bần hàn
Nghĩa là dẫm chân tại chỗ và thụt lùi cả thập kỷ so với thế giới. Cụ thể là chất lượng âm trong kỳ tuyển sinh đại học năm 2005–2006 vừa rồi. Trong số 2,7 triệu học sinh dự thi (nhiều em thi ba trường), chỉ 7% đạt điểm trung bình 5 – một môn trở lên, còn lại 93% là điểm yếu, kém, thậm chí có thí sinh còn để giấy trắng, tử tế hơn là từ 1 đến 1,5 cho ba môn thi... Trong khi tỷ lệ đỗ tốt nghiệp của các trường từ miền núi đến miền xuôi – thấp nhất cũng đạt 92% (80% đạt tới con số kỷ lục, đáng ghi vào kỷ lục ghi net: 99,2, 99,5, 99,7, và 99,99%) ...Rõ ràng có cả một ngàn lẻ một sự gian lận trong thi cử cả phía thầy cô và nhà trường (cùng đồng loã, khuyến khích lũ nhất quỷ nhì ma này quay cóp, phô tô sách vở từ nhà vào phòng, hoặc giải sẵn đề thi cho các thí sinh tha hồ chép lại). Có thế mới có được thành tích cao tót vời này – đến mức, các bậc phụ huynh có con em dự thi phát biểu: Đây đích thực là con số ma, vì chỉ có ma mãnh, ma quái mới tạo dựng được thành tích bất hảo này, phàm đã là con người thì nhân vô thập toàn, làm sao thành nhân hữu ... cả 99,99% thế được?
Điều bất cập, mang tính nhỡn tiền này, thực sự đã gây nhiều tranh cãi trong các kỳ họp quốc hội, số ít đại biểu tích cực cho rằng kết quả đó là điều nguy kịch của nền giáo dục hiện tại, phải tìm ra mọi vướng mắc, yếu kém trong hoạt động của thầy và trò để huy động sức mạnh toàn dân tích cực giải quyết, nâng vấn đề giáo dục lên tầm vĩ mô, chứ không thể ngoảnh mặt trước thực trạng giáo dục đang xuống dốc không phanh rồi kẹt cứng, sa lầy được. Phải nhìn xa vào cả xu thế thế giới lẫn hiện trạng Việt Nam để kéo nền gíao dục lên khỏi vũng bùn, khi còn có thể, nếu không muốn chết sặc trong vòng mươi năm nữa.(Thời đại toàn cầu hoá và kinh tế trí thức này, chỉ cần giáo dục tụt hậu thêm một thập kỷ nữa, đủ đưa đất nước đến bến bờ của sự đào thải, tuyệt vọng).
Phần đông với cái nhìn thiển cẩn hũ nút, giáo điều, phản đối gay gắt, dù sự việc rõ như ban ngày rồi mà các uỷ viên trung ương và các ngài nghị gật vẫn bình chân như vại, thậm chí họ cho rằng việc công khai kết quả thi đại học trên mặt báo chẳng qua chỉ là vạch áo cho người xem lưng. Cho dù giáo dục có xuống cấp tệ hại chăng nữa cũng chẳng chết ai. Tròn hai thập kỷ qua, kể từ ngày đổi mới, đời sống nhân dân vẫn lên, kinh tế cứ tăng trưởng đều đều, có sao đâu? Sao lại phát biểu vô trách nhiệm, thiếu ý thức xây dựng đến vậy (Giáo dục là ...xách cuốc)? Hơn nữa kết quả cuộc thi ôlympic tiểu học của học sinh Việt Nam trong hệ thống Asean đạt giải thưởng xuất sắc chẳng nói lên điều gì sao? Rồi kết quả khảo sát một số lớp tiểu học ở Hà Nội với tiểu học ở Mu Nich(Đức) cuối năm 2005 nữa, Chính báo chí Đức đã từng tuyên bố: So với trẻ em Đức, trẻ em Việt Nam tỏ ra chăm chỉ, có kỷ luật và ngoan ngoãn hơn ... chẳng phải là điều đáng tự hào sao?
Binh pháp Tôn Tử nói: Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng… một điều nhỡn tiền là ta không những không hề biết người, mà còn biết về ta quá ít, gía như trong cuộc thi có đủ mặt tất cả các nước trong hệ thống ASEAN, liệu Việt Nam có đỗ đầu không? Tại sao Singapore là nước phát triển nhất với mức thu nhập GDP hàng năm gấp cả vài chục đến trăm lần Việt Nam (gần 30 nghìn USD, so với Việt Nam không đầy 500 USD) lại không dự thi? Chẳng qua họ coi đó chỉ là trò trẻ, còn trò lớn của họ là dồn sức cho hệ đại học để thu hút các học sinh khắp nơi trên thế giới đến du học kia. Liệu Việt Nam mình có dám quảng cáo rồi cạnh tranh quyết liệt như họ không? Hay chỉ những kẻ ngô ngọng không biết gì về đất nước, con người, đặc biệt là nền giáo dục Việt Nam mới đâm đầu vào? Còn trong nước thì cứ có điều kiện là gồng mình, dồn sức cho con sang Singapore, Nhật Bản, Anh quốc, Pháp, Mỹ, Úc học, dẫu có tốn tiền tỉ cũng cố. Chỉ nhà nào lép vế, bị aó cơm đè đầu thúc gối, chỉ đủ thoả mãn bần cố nông mới chịu để con ở lại – vì biết tấm bằng cử nhân trong nước thật chẳng có chút gía trị gì – như quan niệm của thời hiện đại: Giàu nó ghét, nghèo nó khinh, tài giỏi thông minh, nó không sử dụng (!). Dẫu có đỗ đại học – học đại để lấy tấm bằng đi chăng nữa chẳng qua cũng chỉ là một thứ Từ Hải nhốt trong vây, còn chỗ đứng đích thực của con cái sau năm 5 ra trường phụ thuộc vào túi tiền của bố mẹ . Cứ có “chỉ, có cây” cho lãnh đạo và cán bộ tổ chức tiêu vung tí mẹt, lập tức sẽ có chỉ tiêu phân bổ việc làm ngay. Ngược lại hãy đợi đấy. Nếu tao không có chỉ để tiêu thì đời mày cũng chỉ còn nước ... tiêu luôn. Mật ít, ruồi nhiều mà.
Trừ trường hợp nhờ bố mẹ phá vây bằng cách ra nước ngoài học, ở lại tìm việc, kiếm tiền, còn bằng đỏ, bằng đen cào bằng hết. Người Việt Nam đi học là để lấy bằng đâu phải lấy kiến thức, Cho dù có là hệ tại chức: Học tại chỗ, đỗ tại thầy đi chăng nữa mà có đô la đi trước thì cửa nào cũng lọt, ngược lại hữu tài mà không tiền cũng chỉ là một kẻ vô phận suốt đời mà thôi, lại chuẩn bị đóng góp cho đất nước một dáng hình... xách cuốc (!)
Một điều nhỡn tiền mà các vị đầu sở, đầu bộ giáo dục cố tình bỏ qua trong bài báo mang tính thử nghiệm của Đức là chỉ số IQ của trẻ em ở Munich cao hơn hẳn trẻ em Hà Nội, nghĩa là chúng nghịch ngợm, hiếu động hơn nhưng thông minh hơn, chứ đâu chỉ chăm chỉ cù lần như trẻ em hệ tiểu học ở Việt Nam?
Cũng bởi thời gian này, Hà Nội đang là thực hiện lệnh giới nghiêm, chống bạo động 24/24 giờ, tôi lại phải “dạt vòm” sang nhà mẹ đẻ, nên suốt mấy ngày nằm dài chờ hội nghị, cũng là chờ một “cơn mưa số phận” đến với mình, tôi mới có thời gian xem lại bài vở của cậu cháu. Chao ôi, nó tả trong bài tập làm văn: Nhà em có nuôi một ông ngoại, trong khi lương đại tá vừa kịp về hưu như ông ngoại được không dưới 2,5 triệu, thường phụ thêm vào việc nuôi nó trong cảnh cả con gái lẫn con rể đều thất nghiệp dài ... Giật mình, tôi bảo:
Chết sao cháu lại tả thế, nếu ông biết là ông giận đấy.
Đáp lại thái độ đặc biệt nghiêm túc của tôi, nó tỉnh khô:
Tại cô giáo dạy bài mẫu tả con mèo, rồi bắt về nhà tả “người mà em quý nhất”, cháu cứ theo bài mẫu cô cho mà chép vào vở thôi, chứ cháu làm gì có thời gian nào mà làm nữa?
Thì ra là thế, tôi ái ngại đọc lại bài của cậu cháu “đít tôn” một lần nữa, lòng trào dâng bao cảm xúc: xót thương, hẫng hụt, tiếc nuối ... Cũng may nó chưa ngớ ngẩn đến mức tả ông ngoại có móng vuốt và cả đuôi (!), còn con mèo làm gì ông làm thế, có râu ria, mắt xanh, mũi đỏ, dáng đi nhún nhảy, hay sà vào lòng nũng nịu hoặc chui vào chăn ngủ cùng cả nhà khi trời lạnh giá, thì ông ngoại cũng hệt như vậy, kể cả động tác vồ ... bà (thay cho động tác vồ chuột)... Cười chảy nước mắt, tôi giở trang cuối cùng, nghĩa là ngày 9/11/2006 – đang ở lớp học tại trường, xem nó tả cây chuối trong vườn, quả thật vô cùng sinh động và hấp dẫn. Nào là: “Cây chuối mọc ở giữa sân, lá chuối khi non có màu đỏ tía, khi già thành màu xanh, to đúng bằng bàn tay trẻ nhỏ. Mùa hè chuối làm bóng mát cho lũ trẻ con đến chơi, con gái chơi trò chắt, chuyền, rồi ô ăn quan, con trai chơi trò bịt mắt, bắt dê... Mỗi khi có gió thổi, cả chục chiếc lá lại rụng xuống khắp sân, chạy rào rào trên nền đất cứng. Khi tiết lạnh của mùa đông kéo về, lá chuối rụng cả loạt, phơi ra những cánh tay dài khẳng khiu, hươ hươ trên nền trời, trông thật ảm đạm.. Khi xuân sang, cả ngàn búp chuối lại nở đỏ rực cành, như chào mời bầy chim đến trú ngụ” ...
Đọc đi, đọc lại, mới biết cu cậu tả cây chuối theo bài mẫu cô dạy về cây bàng ở sân trường trong sách giáo khoa. Thực tình từ bé, nó đã được nhìn thấy cây chuối đâu, còn nhà ở giữa đỉnh giời trong khu tập thể, lấy đâu ra vườn mà trồng chuối?
Cho dù có muốn cho cháu được về quê thâm nhập thực tế, phân biệt bò với trâu, ngan với vịt, cá chép với cá giếc, cá trắm, cá mè cũng khó, vì suốt ngày phải nhồi rồi. Hết nhồi ở trường hai buổi, lại học thêm một tiết cuối ở lớp đến tận 18 giờ tối, rồi nhồi thêm thứ bảy, chủ nhật ở nhà cô... Nếu bố mẹ không tích cực gia nhập “đội quân đưa rước chuyên nghiệp” (xe ôm không lệ phí) cả tuần đủ 7 ngày chở con đi đi về về từ nhà mình đến nhà cô và nhà trường – là phương pháp 3D của cô phát huy hiệu lực ngay (vừa dạy, vừa dỗ, vừa doạ). Tất nhiên không loại trừ trường hợp dỗ là chủ yếu, bao nhiêu trường hợp xót con, thương cháu, tiếc tiền mà vô hình chung biến đứa trẻ thành kẻ...ngu đần, mất dạy ngay trước mặt cô. Thế là thay vì được cô dỗ tại nhà, ngày ngày phải viết dưới giá treo cổ một lượng bài tập khổng lồ, hoặc chép đi chép lại một bài vớ vẩn nào đó, không dưới hai mươi lần...cho đến tận 23 giờ đêm, vừa viết vừa ngủ gật ...theo đúng kiểu “doạ” của thầy, cô – những “kỹ sư tâm hồn” song lại đang tâm đánh mất tâm hồn mình chỉ vì số tiền lương đói nghèo.
Đầu vào đã vậy, còn đầu ra là tỷ lệ áp đảo thí sinh đạt dưới mức trung bình cả ba môn (93/100%) đủ để hiểu giáo dục Việt Nam trong thời điểm hiện tại thế nào? Học cái nhìn trong thơ Tố Hữu: “Ta đứng đây mắt nhìn 4 hướng, trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau, trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu” mà không khỏi giật mình trước thảm cảnh của nền giáo dục nước nhà suốt 76 năm qua, kể từ khi có đảng cộng sản lãnh đạo. Bao hiền tài nguyên khí quốc gia lặng lẽ chôn vùi, bao nhiêu con người hai tay phải chắp lại, mắt phải khép xuống, đầu óc phải nghĩ theo cùng một khuôn, sống từ bé đến lớn (thậm chí đến già) phải làm theo những điều đảng dạy. Trí tuệ con người chỉ còn là cái túi rỗng để bỏ vào đấy các kinh nghiệm giáo điều. Bao nhiêu sách vở đều phải viết giống nhau trên cơ sở một nội dung ấy, câu chuyện ấy, ngôn ngữ ấy. Học chỉ cốt học gạo, thuộc lòng, đối phó với thầy cô, với chương trình thi cử trong các cuộc thi vượt rào, vượt cấp, chứ không có nổi thời gian để tâm nhận xét, so sánh, thậm chí, không cần học hỏi, tìm hiểu xem mọi sự vật đang diễn ra hàng ngày trong trong cuộc sống, xã hội quanh mình ra sao? Cứ thế cha truyền con nối, con không được làm khác với cha. Đời sau không được thay đổi nề nếp luật định của đời trước... Cứ thế tất cả khô héo dần, hoá đá dần, không một mầm xanh nào được mọc lên trong tâm tưởng con người... Thật là chua xót, trớ trêu, trong khi tiền tỉ cứ bỏ ra, sách giáo khoa cứ cải cách xoành xoạch, số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư và phó giáo sư được đào tạo nhiều nhất khu vực Đông Nam Á thì đại học Việt Nam xếp gần cuối bảng – có lẽ chỉ còn hơn được Căm Pu Chia, chứ Lào cũng sắp áp đảo rồi…Lẽ nào, giữa thời cộng sản, nơi những cái vô lý làm nên cuộc đời, thằng dốt ngồi trên đầu thằng giỏi, văn hoá sơ đẳng bóp nghẹt văn hoá siêu đẳng, nên lợi ích trăm năm trồng người của cụ Hồ chỉ có vậy? Con bỏi con boi, dù hàng năm ăn một lượng tiền khổng lồ của ngân sách nhà nước nhưng sự ngu đần vẫn không thể nào cải tạo?
Hà Nội – những Ngày hội nghị APEC 2006 họp
Tình hình gíao dục ở Việt Nam, quả thật đã ở mức báo động, nếu tính dấu mốc từ thời điểm giữa thập kỷ 80 – đổi mới cơ chế đến nay, bất cứ kỳ họp nào của quốc hội cũng sôi lên sùng sục khi bàn về vấn đề giáo dục. Nào đầu tư, thu chi ngân sách, tăng cường chế độ lương, thưởng, đổi mới chất lượng sách giáo khoa, điều chỉnh sự mất cân đối giữa miền xuôi và miền ngược, song ra khỏi cửa hội trường, lĩnh phong bì, suất ăn tươi, xe ô tô đưa về nhà rồi là tất cả lại mắc kê nô hết, mặc chất lượng giáo dục trôi nổi hoặc chìm nghỉm ở tận đâu. Có thế lần họp Cuốc hội sau còn có cái để mà bàn (dù là thảo luận sôi nổi những vấn đề đã đề cập từ lần trước, vẫn có ích hơn làm một bộ máy “nghị gật”, “vỗ tay”).
Đến hẹn lại nên, lần thảo luận nào, không khí trong hội nghị cũng “sôi” để rồi ra khỏi cửa là nguội lạnh và thả...nổi luôn. Bao nhiêu giải pháp quyết sách mạnh mẽ để giáo dục xứng đáng là quốc sách hàng đầu bị bỏ qua, khi quay về với nhà trường, giáo viên và học sinh, lại nghiễm nhiên trở thành... xách cuốc, như thơ nhại của cánh sinh viên:
Người học trò nghèo góp cho đất nước mình...dáng hình xách cuốc
Đời lắt lay như cọng cỏ, con sâu
Ước mơ chôn trong cực khổ bần hàn
Nghĩa là dẫm chân tại chỗ và thụt lùi cả thập kỷ so với thế giới. Cụ thể là chất lượng âm trong kỳ tuyển sinh đại học năm 2005–2006 vừa rồi. Trong số 2,7 triệu học sinh dự thi (nhiều em thi ba trường), chỉ 7% đạt điểm trung bình 5 – một môn trở lên, còn lại 93% là điểm yếu, kém, thậm chí có thí sinh còn để giấy trắng, tử tế hơn là từ 1 đến 1,5 cho ba môn thi... Trong khi tỷ lệ đỗ tốt nghiệp của các trường từ miền núi đến miền xuôi – thấp nhất cũng đạt 92% (80% đạt tới con số kỷ lục, đáng ghi vào kỷ lục ghi net: 99,2, 99,5, 99,7, và 99,99%) ...Rõ ràng có cả một ngàn lẻ một sự gian lận trong thi cử cả phía thầy cô và nhà trường (cùng đồng loã, khuyến khích lũ nhất quỷ nhì ma này quay cóp, phô tô sách vở từ nhà vào phòng, hoặc giải sẵn đề thi cho các thí sinh tha hồ chép lại). Có thế mới có được thành tích cao tót vời này – đến mức, các bậc phụ huynh có con em dự thi phát biểu: Đây đích thực là con số ma, vì chỉ có ma mãnh, ma quái mới tạo dựng được thành tích bất hảo này, phàm đã là con người thì nhân vô thập toàn, làm sao thành nhân hữu ... cả 99,99% thế được?
Điều bất cập, mang tính nhỡn tiền này, thực sự đã gây nhiều tranh cãi trong các kỳ họp quốc hội, số ít đại biểu tích cực cho rằng kết quả đó là điều nguy kịch của nền giáo dục hiện tại, phải tìm ra mọi vướng mắc, yếu kém trong hoạt động của thầy và trò để huy động sức mạnh toàn dân tích cực giải quyết, nâng vấn đề giáo dục lên tầm vĩ mô, chứ không thể ngoảnh mặt trước thực trạng giáo dục đang xuống dốc không phanh rồi kẹt cứng, sa lầy được. Phải nhìn xa vào cả xu thế thế giới lẫn hiện trạng Việt Nam để kéo nền gíao dục lên khỏi vũng bùn, khi còn có thể, nếu không muốn chết sặc trong vòng mươi năm nữa.(Thời đại toàn cầu hoá và kinh tế trí thức này, chỉ cần giáo dục tụt hậu thêm một thập kỷ nữa, đủ đưa đất nước đến bến bờ của sự đào thải, tuyệt vọng).
Phần đông với cái nhìn thiển cẩn hũ nút, giáo điều, phản đối gay gắt, dù sự việc rõ như ban ngày rồi mà các uỷ viên trung ương và các ngài nghị gật vẫn bình chân như vại, thậm chí họ cho rằng việc công khai kết quả thi đại học trên mặt báo chẳng qua chỉ là vạch áo cho người xem lưng. Cho dù giáo dục có xuống cấp tệ hại chăng nữa cũng chẳng chết ai. Tròn hai thập kỷ qua, kể từ ngày đổi mới, đời sống nhân dân vẫn lên, kinh tế cứ tăng trưởng đều đều, có sao đâu? Sao lại phát biểu vô trách nhiệm, thiếu ý thức xây dựng đến vậy (Giáo dục là ...xách cuốc)? Hơn nữa kết quả cuộc thi ôlympic tiểu học của học sinh Việt Nam trong hệ thống Asean đạt giải thưởng xuất sắc chẳng nói lên điều gì sao? Rồi kết quả khảo sát một số lớp tiểu học ở Hà Nội với tiểu học ở Mu Nich(Đức) cuối năm 2005 nữa, Chính báo chí Đức đã từng tuyên bố: So với trẻ em Đức, trẻ em Việt Nam tỏ ra chăm chỉ, có kỷ luật và ngoan ngoãn hơn ... chẳng phải là điều đáng tự hào sao?
Binh pháp Tôn Tử nói: Biết người, biết ta, trăm trận trăm thắng… một điều nhỡn tiền là ta không những không hề biết người, mà còn biết về ta quá ít, gía như trong cuộc thi có đủ mặt tất cả các nước trong hệ thống ASEAN, liệu Việt Nam có đỗ đầu không? Tại sao Singapore là nước phát triển nhất với mức thu nhập GDP hàng năm gấp cả vài chục đến trăm lần Việt Nam (gần 30 nghìn USD, so với Việt Nam không đầy 500 USD) lại không dự thi? Chẳng qua họ coi đó chỉ là trò trẻ, còn trò lớn của họ là dồn sức cho hệ đại học để thu hút các học sinh khắp nơi trên thế giới đến du học kia. Liệu Việt Nam mình có dám quảng cáo rồi cạnh tranh quyết liệt như họ không? Hay chỉ những kẻ ngô ngọng không biết gì về đất nước, con người, đặc biệt là nền giáo dục Việt Nam mới đâm đầu vào? Còn trong nước thì cứ có điều kiện là gồng mình, dồn sức cho con sang Singapore, Nhật Bản, Anh quốc, Pháp, Mỹ, Úc học, dẫu có tốn tiền tỉ cũng cố. Chỉ nhà nào lép vế, bị aó cơm đè đầu thúc gối, chỉ đủ thoả mãn bần cố nông mới chịu để con ở lại – vì biết tấm bằng cử nhân trong nước thật chẳng có chút gía trị gì – như quan niệm của thời hiện đại: Giàu nó ghét, nghèo nó khinh, tài giỏi thông minh, nó không sử dụng (!). Dẫu có đỗ đại học – học đại để lấy tấm bằng đi chăng nữa chẳng qua cũng chỉ là một thứ Từ Hải nhốt trong vây, còn chỗ đứng đích thực của con cái sau năm 5 ra trường phụ thuộc vào túi tiền của bố mẹ . Cứ có “chỉ, có cây” cho lãnh đạo và cán bộ tổ chức tiêu vung tí mẹt, lập tức sẽ có chỉ tiêu phân bổ việc làm ngay. Ngược lại hãy đợi đấy. Nếu tao không có chỉ để tiêu thì đời mày cũng chỉ còn nước ... tiêu luôn. Mật ít, ruồi nhiều mà.
Trừ trường hợp nhờ bố mẹ phá vây bằng cách ra nước ngoài học, ở lại tìm việc, kiếm tiền, còn bằng đỏ, bằng đen cào bằng hết. Người Việt Nam đi học là để lấy bằng đâu phải lấy kiến thức, Cho dù có là hệ tại chức: Học tại chỗ, đỗ tại thầy đi chăng nữa mà có đô la đi trước thì cửa nào cũng lọt, ngược lại hữu tài mà không tiền cũng chỉ là một kẻ vô phận suốt đời mà thôi, lại chuẩn bị đóng góp cho đất nước một dáng hình... xách cuốc (!)
Một điều nhỡn tiền mà các vị đầu sở, đầu bộ giáo dục cố tình bỏ qua trong bài báo mang tính thử nghiệm của Đức là chỉ số IQ của trẻ em ở Munich cao hơn hẳn trẻ em Hà Nội, nghĩa là chúng nghịch ngợm, hiếu động hơn nhưng thông minh hơn, chứ đâu chỉ chăm chỉ cù lần như trẻ em hệ tiểu học ở Việt Nam?
Cũng bởi thời gian này, Hà Nội đang là thực hiện lệnh giới nghiêm, chống bạo động 24/24 giờ, tôi lại phải “dạt vòm” sang nhà mẹ đẻ, nên suốt mấy ngày nằm dài chờ hội nghị, cũng là chờ một “cơn mưa số phận” đến với mình, tôi mới có thời gian xem lại bài vở của cậu cháu. Chao ôi, nó tả trong bài tập làm văn: Nhà em có nuôi một ông ngoại, trong khi lương đại tá vừa kịp về hưu như ông ngoại được không dưới 2,5 triệu, thường phụ thêm vào việc nuôi nó trong cảnh cả con gái lẫn con rể đều thất nghiệp dài ... Giật mình, tôi bảo:
Chết sao cháu lại tả thế, nếu ông biết là ông giận đấy.
Đáp lại thái độ đặc biệt nghiêm túc của tôi, nó tỉnh khô:
Tại cô giáo dạy bài mẫu tả con mèo, rồi bắt về nhà tả “người mà em quý nhất”, cháu cứ theo bài mẫu cô cho mà chép vào vở thôi, chứ cháu làm gì có thời gian nào mà làm nữa?
Thì ra là thế, tôi ái ngại đọc lại bài của cậu cháu “đít tôn” một lần nữa, lòng trào dâng bao cảm xúc: xót thương, hẫng hụt, tiếc nuối ... Cũng may nó chưa ngớ ngẩn đến mức tả ông ngoại có móng vuốt và cả đuôi (!), còn con mèo làm gì ông làm thế, có râu ria, mắt xanh, mũi đỏ, dáng đi nhún nhảy, hay sà vào lòng nũng nịu hoặc chui vào chăn ngủ cùng cả nhà khi trời lạnh giá, thì ông ngoại cũng hệt như vậy, kể cả động tác vồ ... bà (thay cho động tác vồ chuột)... Cười chảy nước mắt, tôi giở trang cuối cùng, nghĩa là ngày 9/11/2006 – đang ở lớp học tại trường, xem nó tả cây chuối trong vườn, quả thật vô cùng sinh động và hấp dẫn. Nào là: “Cây chuối mọc ở giữa sân, lá chuối khi non có màu đỏ tía, khi già thành màu xanh, to đúng bằng bàn tay trẻ nhỏ. Mùa hè chuối làm bóng mát cho lũ trẻ con đến chơi, con gái chơi trò chắt, chuyền, rồi ô ăn quan, con trai chơi trò bịt mắt, bắt dê... Mỗi khi có gió thổi, cả chục chiếc lá lại rụng xuống khắp sân, chạy rào rào trên nền đất cứng. Khi tiết lạnh của mùa đông kéo về, lá chuối rụng cả loạt, phơi ra những cánh tay dài khẳng khiu, hươ hươ trên nền trời, trông thật ảm đạm.. Khi xuân sang, cả ngàn búp chuối lại nở đỏ rực cành, như chào mời bầy chim đến trú ngụ” ...
Đọc đi, đọc lại, mới biết cu cậu tả cây chuối theo bài mẫu cô dạy về cây bàng ở sân trường trong sách giáo khoa. Thực tình từ bé, nó đã được nhìn thấy cây chuối đâu, còn nhà ở giữa đỉnh giời trong khu tập thể, lấy đâu ra vườn mà trồng chuối?
Cho dù có muốn cho cháu được về quê thâm nhập thực tế, phân biệt bò với trâu, ngan với vịt, cá chép với cá giếc, cá trắm, cá mè cũng khó, vì suốt ngày phải nhồi rồi. Hết nhồi ở trường hai buổi, lại học thêm một tiết cuối ở lớp đến tận 18 giờ tối, rồi nhồi thêm thứ bảy, chủ nhật ở nhà cô... Nếu bố mẹ không tích cực gia nhập “đội quân đưa rước chuyên nghiệp” (xe ôm không lệ phí) cả tuần đủ 7 ngày chở con đi đi về về từ nhà mình đến nhà cô và nhà trường – là phương pháp 3D của cô phát huy hiệu lực ngay (vừa dạy, vừa dỗ, vừa doạ). Tất nhiên không loại trừ trường hợp dỗ là chủ yếu, bao nhiêu trường hợp xót con, thương cháu, tiếc tiền mà vô hình chung biến đứa trẻ thành kẻ...ngu đần, mất dạy ngay trước mặt cô. Thế là thay vì được cô dỗ tại nhà, ngày ngày phải viết dưới giá treo cổ một lượng bài tập khổng lồ, hoặc chép đi chép lại một bài vớ vẩn nào đó, không dưới hai mươi lần...cho đến tận 23 giờ đêm, vừa viết vừa ngủ gật ...theo đúng kiểu “doạ” của thầy, cô – những “kỹ sư tâm hồn” song lại đang tâm đánh mất tâm hồn mình chỉ vì số tiền lương đói nghèo.
Đầu vào đã vậy, còn đầu ra là tỷ lệ áp đảo thí sinh đạt dưới mức trung bình cả ba môn (93/100%) đủ để hiểu giáo dục Việt Nam trong thời điểm hiện tại thế nào? Học cái nhìn trong thơ Tố Hữu: “Ta đứng đây mắt nhìn 4 hướng, trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau, trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu” mà không khỏi giật mình trước thảm cảnh của nền giáo dục nước nhà suốt 76 năm qua, kể từ khi có đảng cộng sản lãnh đạo. Bao hiền tài nguyên khí quốc gia lặng lẽ chôn vùi, bao nhiêu con người hai tay phải chắp lại, mắt phải khép xuống, đầu óc phải nghĩ theo cùng một khuôn, sống từ bé đến lớn (thậm chí đến già) phải làm theo những điều đảng dạy. Trí tuệ con người chỉ còn là cái túi rỗng để bỏ vào đấy các kinh nghiệm giáo điều. Bao nhiêu sách vở đều phải viết giống nhau trên cơ sở một nội dung ấy, câu chuyện ấy, ngôn ngữ ấy. Học chỉ cốt học gạo, thuộc lòng, đối phó với thầy cô, với chương trình thi cử trong các cuộc thi vượt rào, vượt cấp, chứ không có nổi thời gian để tâm nhận xét, so sánh, thậm chí, không cần học hỏi, tìm hiểu xem mọi sự vật đang diễn ra hàng ngày trong trong cuộc sống, xã hội quanh mình ra sao? Cứ thế cha truyền con nối, con không được làm khác với cha. Đời sau không được thay đổi nề nếp luật định của đời trước... Cứ thế tất cả khô héo dần, hoá đá dần, không một mầm xanh nào được mọc lên trong tâm tưởng con người... Thật là chua xót, trớ trêu, trong khi tiền tỉ cứ bỏ ra, sách giáo khoa cứ cải cách xoành xoạch, số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư và phó giáo sư được đào tạo nhiều nhất khu vực Đông Nam Á thì đại học Việt Nam xếp gần cuối bảng – có lẽ chỉ còn hơn được Căm Pu Chia, chứ Lào cũng sắp áp đảo rồi…Lẽ nào, giữa thời cộng sản, nơi những cái vô lý làm nên cuộc đời, thằng dốt ngồi trên đầu thằng giỏi, văn hoá sơ đẳng bóp nghẹt văn hoá siêu đẳng, nên lợi ích trăm năm trồng người của cụ Hồ chỉ có vậy? Con bỏi con boi, dù hàng năm ăn một lượng tiền khổng lồ của ngân sách nhà nước nhưng sự ngu đần vẫn không thể nào cải tạo?
Hà Nội – những Ngày hội nghị APEC 2006 họp
Các bạn hãy tiếp sức cho Hội Dân Oan chúng tôi!
Trần Khải Thanh Thuỷ
“…nếu chúng ta biết đoàn kết, biết đồng lòng, dù đảng cộng sản có cấu kết với nhau, với bao thế lực thù nghịch đen tối, như công an, bộ đội - những thành phần đã vô tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc...”
Đánh hòn đá ù lì
Cho loé ngời ngôn ngữ
Lửa tù đày trong đá
Mà đá ngủ vô tư !?
( Thơ CLV)
Thưa bà con anh em Việt Nam trong và ngoài nước!
Cho đến giờ phút này tôi đã hoàn thành được một phần tâm nguyện của đời mình, thành lập hội dân oan Việt Nam, với sự tham gia đông đảo của hầu hết các nhà dân chủ trong nước - những người thực thi quyền lợi cho một Việt Nam tươi đẹp và giàu mạnh.
Xin trích dẫn lại 4 câu thơ này của cố nhà thơ Chế Lan Viên để nhắn gửi tới các bạn một thông điệp khẩn: Hãy tiếp sức cho chúng tôi, thưa các bạn. Bản thân tôi- xuất thân từ một nhà giáo đã vì đảng, vì dân mà tình nguyện lên dạy tận miền núi Hoà Bình, nơi một tiếng gà gáy sáng cả ba nước cùng nghe, nơi dòng điện Sông Đà không thể nào chảy tới, nơi bóng tối luôn rình rập, ngự trị, đến mức xoè bàn tay không nhìn rõ ngón mình. 29 tuổi được về lại thủ đô, nơi mình đã từng sinh ra và lớn lên, cũng là bị cướp biên chế vĩnh viễn cho đám con ông cháu cha ngồi vào...Một người đàn bà bé nhỏ, mà vũ khí duy nhất chỉ là ngòi bút, động tác duy nhất chỉ là đánh hòn đá ù lì trong lòng mình, lòng dân oan Việt Nam, cho đến khi loé ngời ngôn ngữ, giải thoát những ngọn lửa tù đày trong những trái tim vô tình, hoá đá vì bị đảng cầm tù, giam hãm, thành ngọn lửa giữa đời thường để reo hát vui ca, rực cháy trong đêm trường tăm tối, gọi bình minh, gọi tiếng gà gáy sáng , giải thoát bao kiếp đời tăm tối.
Vì vậy, xin hãy tiếp sức cho chúng tôi, thưa các bạn. Dù là than hay là lửa, hãy cháy lên đi cho một ngày mai Việt Nam bừng sáng, để thiêu cháy hoạ cộng sản trên quê hương ta, đừng tiếp thêm cho ngọn lửa ma quái leo lét của đảng cộng sản hoành hành. Hãy làm như người Trung Quốc nói:" miếng thịt đã thối rồi, đừng tẩm thêm gia vị rồi nướng cho mọi người thưởng thức nữa, phải chôn sâu xuống 9 tầng đất đen, để cả cộng đồng không bị ô nhiễm mùi vị đảng. Nên nhớ đảng cộng sản chỉ mạnh khi hội tụ đủ 4 điều:
1, Khoá chặt mọi cánh cửa với thế giới bên ngoài.
2, Kiểm soát chặt chẽ mọi quyền tự do tối thiểu của con người
3, Nghiêm cấm sử dụng Internet
4, Cấm đoán mọi hoạt động kinh tế của cán bộ công nhân viên ...
Nay 4 điều ấy đều đã và đang bị loại bỏ thì chúng ta - những công dân Việt Nam còn tiếc rẻ gì mà không vùng lên đạp đổ căn nhà ma quái do cộng sản sáng lập?
Bão nổi lên rồi từ lòng người dân oan anh em chúng tôi, mọi con mắt của trời và cả 6 tỉ người trên khắp thế giới đang nhìn vào, chứng kiến những giờ phút trông đợi có một không hai trong Lịch sử Việt Nam. Cái thời đảng trị (các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau...phá nước) sẽ qua đi trong năm định mệnh 2007. Thay vì hàng trăm, hàng triệu người dân oan Việt Nam phải len lét cúi đầu trong tiếng nấc, mắt lưng tròng lê chân bước đau thương, trên con đường khiếu kiện thăm thẳm mịt mù sẽ là sự vùng lên lật đổ Đảng, xử tội đảng như người dân Ru Ma Ni đã xử tội cặp vợ chồng Ceausescu. Chính chúng tôi, những người dân oan Việt Nam sẽ là ngòi nổ đầu tiên, bắt đầu từ ngày đặc biệt 9-12 này. Ngày mà tròn một năm trước, 60 người dân oan chúng tôi tập trung ở vườn hoa bị cướp bóc sạch sẽ từ manh quần tấm áo, phế liệu, mảnh bạt, chăn màn, gạo, tiền lên xe chở rác (5 tấn) của công ty môi trường đô thị đổ ra bãi rác thành phố, dưới sự chỉ đạo của công an thành phố, đứng đầu là bộ trưởng Lê Hồng Anh...
Từ đó đến nay, những mảnh đời cơ nhỡ chúng tôi liên tục bị xua đuổi, bắt bớ, đánh đập giam hãm, cho nên không còn cách nào khác, chúng tôi phải tìm đến với nhau, đến mái nhà chung của hội như cây phải có lá, như cá phải nhiều vây, như sông tìm về nguồn nước, để tạo thành sức mạnh hùng hậu của mình, cùng bà con anh em trong và ngoài nước, cùng các nhà dân chủ, thanh niên, trí thức nước nhà, vùng lên lật đổ chính thể cộng sản độc ác, gian manh, thối nát như người Ru Ma Ni xử tội cặp vợ chồng Ceausescu.
Xin nhắc lại tỉ mỉ cái chết này một lần nữa, để lũ chó săn của đảng có dịp sáng mắt ra (không ôm chân bọn lãnh đạo độc địa gian tham, không đàn áp đầy ải bà con dân oan chúng tôi, các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến thêm một lần nào nữa).
Đầu tháng 12/1989, chính Ceausescu đã bị quân đội của mình nổi dạy và lật đổ (làm thiệt mạng hơn 2000 người). Ngày 22/12/1989, hắn quyết định chạy trốn cùng vợ là Elena, nhưng vợ chồng hắn làm sao có thể chạy thoát khỏi tai mắt của nhân dân? Mọi nhất cử nhất động của cặp vợ chồng độc tài này đều bị toàn thể dân chúng theo dõi để kịp thời truy đuổi và bắt gọn. Khi bản án tử hình được ban ra, cả tiểu đoàn lính tranh giành nhau bắn. Hơn 300 tay súng cùng chĩa vào hai xúc thịt khổng lồ và nhất loạt nổ súng. Lập tức thân thể của cặp vợ chồng này bị băm nhỏ hơn cả đống thịt vụn... Vì sự thanh trừng "tàn bạo" này nên ngay sau khi chính phủ mới của Rumani thành lập, đã bị các chính quyền Tây phương lên án mạnh mẽ, nhưng trách làm sao được khi sự căm phẫn của toàn dân đã đến mức tột đỉnh? Rõ ràng chính quyền cách mạng Ru Ma Ni không thể lựa chọn cách hành xử nào khác là bắn chết hai kẻ tham lam độc tài này như những con chó ghẻ, bệnh hoạn. Khi ấy là giữa đêm đông giá lạnh, rạng ngày 25/12/1989.
Ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn sẽ diễn ra tương tự, thậm chí có thể khủng khiếp hơn nếu tập đoàn cộng sản cứ cố bám vào ngai vàng quyền lực, bỏ qua lợi ích của toàn dân tộc, dìm cơ đồ Việt Nam trong vũng lầy của sự nghèo đói, lạc hậu. Chỉ quan chức lãnh đạo mới giàu có ức vạn còn dân tình thì khốn đốn tha hương, và dân oan chúng tôi còn nghìn lần cay đắng hơn: Nghèo ba họ, khó ba đời. Tả tơi suốt kiếp làm người Việt Nam.
Vì vậy, hãy tiếp sức cho dân oan chúng tôi, thưa các bạn già trẻ, gần xa, trong hay ngoài nước... Là con dân nước Việt , chúng ta, ai cũng đã từng khóc thương mình, thương đời, thương cho dân tộc bị hoạ cộng sản nuốt chửng, 10 phần nay chỉ còn một phần thoi thóp, ọp ẹp, không sức sống... đặc biệt là những người dân oan Việt Nam như chúng tôi , Từ địa vị dân ngoan, luôn làm theo lệnh đảng. Người ở nhà thì thắt lưng buộc bụng, củ sắn củ khoai để dồn thóc lúa, lương thực cho bộ đội ăn no góp phần thắng pháp, Mỹ, theo khẩu hiệu: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Người ra đi thì bỏ cả quá khứ (mồ mả cha ông) lẫn hiện tại (chí làm trai chẳng tiếc đời xanh) sẵn sàng chấp nhận cái chết về mình ( Xé mình ra cho tổ quốc quyết sinh ) vậy mà khi trở về chỉ là cảnh: Khoai khoai trộn cơm đã nhiều năm rồi, quê ta chẳng đổi thay gì. Đã thế mái nhà -cũng là tài sản có gía trị duy nhất trong cuộc đời chúng tôi, trên mảnh đất ông bà tổ tiên để lại cũng bị quan xã, quan huyện, quan tỉnh mượn chiêu bài giãn dân, xây trung tâm du lịch nọ kia để cướp đoạt, lấy 10 chỉ trả một, cướp 10 chỉ bù 2,3 v.v Biến chúng tôi từ địa vị dân ngoan thành dân oan. Chính điều 4 hiến pháp là 4 tấm dài của chiếc quan tài định mệnh mà đảng dùng để chôn dân tộc Việt Nam trong suốt 31 năm trời qua, 2 tấm còn lại là tà thuyết Mác lê, tư tưởng Hồ chí minh, bản thân dân oan chúng tôi, đã ở trong quan tài định mệnh còn bị đánh, trói, doạ dẫm...sống lay lắt không bằng con vật.
Vì vậy... dù bị cộng sản đánh vu hồi kỳ trận, bão đen ập xuống đời chúng tôi và gia đình bao nhiêu năm qua (từ thập kỷ 80) dù bị vặn vẹo tra tấn hết lần này lần khác, vào tù, ra khám, vì tội " Gây rối loạn trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, chống lại chính sách "đúng đắn, tốt đẹp" của đảng và nhà nước... Chúng tôi không nao núng tinh thần mà ngược lại luôn vững tin vào sức mạnh của đạo lý cha ông: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Cái thời chân lý bặt tăm đã qua lâu rồi. Trong cả vũng ao tù hẹp hòi tưởng chừng luôn yên tĩnh, những người dân oan Việt Nam chúng tôi chính là những bọt nước của mạch sống từ đáy ao trỗi dạy. Trong cái bình diện của nền nếp và khốn khổ ở Việt Nam tưởng chừng mãi mãi bất di bất dịch, dân oan chúng tôi chính là những con người cựa quậy thoát ra ngoài vạch thẳng, ngoài mẫu mực tâm lý nô lệ tầm thường để tồn tại, để đấu tranh, khẳng định quyền làm người, quyền được sống trên chính mảnh đất của cha ông mình. Cả trăm, nghìn, triệu dân oan Việt Nam, từ nhà nông, công nhân, cựu chiến binh, kỹ sư , bác sĩ... Tất cả không vì nỗi sợ sệt vây hãm mà đánh mất tương lai lâu dài cho bao thế hệ kế tiếp sau này, cho chính quyền được làm người, được sống, được đòi lại mọi quyền lợi đã mất cho riêng mình...
Hãy tin tưởng vào chúng tôi, thưa các bạn, những người phụ nữ, nam giới, đang bước dần vào tuổi tri thiên mệnh, từ tân hôn đã nhuốm màu hoàng hôn, phải chịu bao thảm cảnh do cộng sản gây ra. Dùng cả bộ máy khổng lồ, vũ khí trang bị dùi cui, súng ống tận răng để đàn áp tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng chưa đủ còn đem xe tù, bắt cóc, tống tiễn dân oan chúng tôi vào tận trại giam ngoại thành cả 10 ngày trời trước và sau hội nghị Apec, cốt trưng ra chiếc váy ngủ sặc sỡ của đảng mà bất cứ ai là người Việt Nam cũng đều biết rằng bên trong đầy rận.
Không chỉ riêng hội nghị Apec mà tất cả các công việc lớn nhỏ của đảng và chính phủ, từ đại hội, quốc hội, tiếp các quan khách nước ngoài, Segame v.v...thì dân oan Việt Nam, dù trọ tại nhà trọ quanh khu vực Ngọc Hà, Quán Thánh, Thuỵ Khuê, hoặc vạ vật, lê lết trong lòng vườn hoa Mai Xuân Thưởng v.v đều bị "bão" quét lên "trung tâm bão" là đồn công an của phường Thuỵ Khuê để tra hỏi, đe nẹt cật vấn, hù doạ, rồi thả về quê, hoặc nhốt vào trại cai nghiện, cải tạo, các trung tâm lao động v.v ...Chính vì nòng nọc phải rỡn sóng với cá kình, dã tràng phải chịu bao nhiêu lớp sóng lừng ngoài biển nên không biết bao nhiêu số phận ngấm ngầm bị hại. Người bị xe đâm, người bị quẳng xuống sông, người tự thiêu, người treo cổ chết ngay gốc nhãn trước cửa phòng tiếp dân, người ốm đau, thương tích, tật nguyền suốt đời do bị đánh, người vì không có thuốc chữa mà đành nằm chờ chết, hoặc chết ngay trong nhà tù cộng sản vì không chịu nổi sự khắc nghiệt... Ra đi mà không đành nhắm mắt, phải để lại nỗi hận cho con cái tiếp tục "bản trường ca khiếu kiện" vì mất nhà, mất đất, mất mọi quyền sống sơ đẳng của con người.
Chính những những người bạn và tấm lòng của người anh, người chị, người em nơi Hải Ngoại sẽ giúp dân oan chúng tôi trỗi dạy, đứng thẳng làm người. Sức mạnh của mỗi người dân oan trong cả hội dân oan Việt Nam từ nay sẽ được nhân bản, lan rộng thành sức mạnh chung của cộng đồng, của dân tộc, đặc biệt là lớp trẻ. Trên con đường đấu tranh không khoan nhượng với công an và đảng cộng sản, để tìm lại quyền lợi cho mình, cũng là tự do dân chủ cho dân tộc, chúng tôi tình nguyện để lại dấu chân, nhành cây, vết thương và lời nhắn gửi cho những người đến sau, những người còn thập thò miệng lỗ...

Hãy chui ra khỏi lòng hang chật hẹp, để tiếp sức cho chúng tôi khỏi bị bao vây, cô lập, thưa bạn. Hãy bước đi những bước hào hùng mạnh mẽ của đời mình trên mặt đất gồ ghề sỏi đá, gai góc song phía trước sẽ nở đầy những bông hoa thắm. Chỉ cần gặp được dấu chân hay bất kỳ một tín hiệu tự do nào mà những người dân oan chúng tôi để lại, bạn sẽ biết rõ việc của mình, và lại tiếp tục để lại các dấu chân, nhành hoa, bánh mì bên đường, để người sau, sau nữa nhận rõ tín hiệu của tự do mà tìm đến, tạo thành đội ngũ trùng trùng điệp điệp các thành viên của hội, các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến... Khi một cá nhân được bảo vệ, thì sức mạnh tiềm tàng sẽ được nâng lên rất nhiều, dẫu không phải đứng trên vai của những người khổng lồ như bao nhiêu nhà thiên tài, bác học lỗi lạc khác, song ngoài sức mạnh của bản thân, mỗi người dân oan chúng tôi sẽ có thêm sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của sự cộng hưởng. Chỉ cần có điểm tựa là bè bạn, bà con, anh em dân tộc Việt , thì chúng tôi- những người bị đảng cướp đoạt mọi quyền lợi, buộc phải đấu tranh - sẽ nâng bổng ngôi nhà ma quái bưng bít của đảng vứt xuống biển, như lời Ac -Si Met nói: Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng cả trái đất. Ngày nào mà ngôi nhà tự do dân chủ được xây dựng, ngày ấy cộng đồng người Việt Nam trên khắp 4 biển, 5 châu 6 lục sẽ tìm về quây quần tụ hội sau 31 năm trời tang tóc. Thay vì một mối đau thương, một mối hận thù như lời thơ Nguyễn Chí Thiện than khóc cho dân tộc vào tháng 4-1975 sẽ là một mối yêu thương, ấm áp tình người của năm 2007. Những người con của Vua Hùng sẽ sống với nhau theo đúng đạo làm người, vực đạo lý dân tộc bị đảng nhốt từ núi cao, vực sâu, hang tối dạy, toả sáng khắp non sông, trong mỗi mái nhà, trên mỗi mái đầu trẻ thơ...
Vì vậy hãy tiếp sức cho chúng tôi, hỡi bạn. Nếu mỗi một hòn than, ngọn lửa như chúng tôi được cả đồng bào Hải Ngoại gìn giữ, tiếp sức, lập hội bảo vệ, thì làm sao đảng có thể dập tắt được? Cái thời mù loà, tiếm quyền của đảng cộng sản đã qua rồi, thời này là thời của tin học, của công nghệ, của hội nhập và tri thức toàn cầu. Đảng có muốn "muôn năm" cũng không được, vì tự đảng đã lòi cái đuôi định hướng và bộ mặt độc tài là điều 4 hiến pháp, điều 31 Cp, điều 56 hiến pháp v.v rồi. Nếu đảng không tự giải tán khỏi ngôi vị quyền lực của mình, thì những ngày bình thường sẽ cháy lên, những người bình thường cũng cháy lên giải phóng ngọn lửa tù đày đã ngủ quên cả 31 năm trời trong gan ruột mình, và toàn thể nhân dân Việt Nam (đặc biệt là hội viên hội dân oan Việt Nam ) tất cả chúng tôi sẽ cùng các bạn vùng lên lật đổ chế độ độc tài phản động, đập chết các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam như người dân Ru ma ni đã từng xử tử cặp vợ chồng Ceausescu. Không thể khác.
Ngày ấy, ngày ấy sẽ không xa, nếu chúng ta biết đoàn kết, biết đồng lòng, dù đảng cộng sản có cấu kết với nhau, với bao thế lực thù nghịch đen tối, như công an, bộ đội - những thành phần đã vô tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc: "Trung với đảng hiếu với cha, người Việt nào cũng bị hành, nhũng tham nào cũng bỏ qua, kẻ thù nào cũng trốn tránh"...thì ngày ấy sẽ chỉ trong năm 2007 này thôi. Những chú gà của năm 2007 đang chuẩn bị gáy sáng rồi đấy. Ma quỷ nào cũng phải lùi vào bóng đêm trước khi ánh mặt trời soi dọi
Hãy tiếp sức cho chúng tôi, những người dân oan Việt Nam- một mảng đời đau thương, nạn nhân của chính thể cộng sản độc ác, xảo trá, gian dối, thối nát, thưa các bạn.
Hà Nội 9-12-2006
Thay mặt dân oan Việt Nam
Trần Khải Thanh Thuỷ
“…nếu chúng ta biết đoàn kết, biết đồng lòng, dù đảng cộng sản có cấu kết với nhau, với bao thế lực thù nghịch đen tối, như công an, bộ đội - những thành phần đã vô tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc...”
Đánh hòn đá ù lì
Cho loé ngời ngôn ngữ
Lửa tù đày trong đá
Mà đá ngủ vô tư !?
( Thơ CLV)
Thưa bà con anh em Việt Nam trong và ngoài nước!
Cho đến giờ phút này tôi đã hoàn thành được một phần tâm nguyện của đời mình, thành lập hội dân oan Việt Nam, với sự tham gia đông đảo của hầu hết các nhà dân chủ trong nước - những người thực thi quyền lợi cho một Việt Nam tươi đẹp và giàu mạnh.
Xin trích dẫn lại 4 câu thơ này của cố nhà thơ Chế Lan Viên để nhắn gửi tới các bạn một thông điệp khẩn: Hãy tiếp sức cho chúng tôi, thưa các bạn. Bản thân tôi- xuất thân từ một nhà giáo đã vì đảng, vì dân mà tình nguyện lên dạy tận miền núi Hoà Bình, nơi một tiếng gà gáy sáng cả ba nước cùng nghe, nơi dòng điện Sông Đà không thể nào chảy tới, nơi bóng tối luôn rình rập, ngự trị, đến mức xoè bàn tay không nhìn rõ ngón mình. 29 tuổi được về lại thủ đô, nơi mình đã từng sinh ra và lớn lên, cũng là bị cướp biên chế vĩnh viễn cho đám con ông cháu cha ngồi vào...Một người đàn bà bé nhỏ, mà vũ khí duy nhất chỉ là ngòi bút, động tác duy nhất chỉ là đánh hòn đá ù lì trong lòng mình, lòng dân oan Việt Nam, cho đến khi loé ngời ngôn ngữ, giải thoát những ngọn lửa tù đày trong những trái tim vô tình, hoá đá vì bị đảng cầm tù, giam hãm, thành ngọn lửa giữa đời thường để reo hát vui ca, rực cháy trong đêm trường tăm tối, gọi bình minh, gọi tiếng gà gáy sáng , giải thoát bao kiếp đời tăm tối.
Vì vậy, xin hãy tiếp sức cho chúng tôi, thưa các bạn. Dù là than hay là lửa, hãy cháy lên đi cho một ngày mai Việt Nam bừng sáng, để thiêu cháy hoạ cộng sản trên quê hương ta, đừng tiếp thêm cho ngọn lửa ma quái leo lét của đảng cộng sản hoành hành. Hãy làm như người Trung Quốc nói:" miếng thịt đã thối rồi, đừng tẩm thêm gia vị rồi nướng cho mọi người thưởng thức nữa, phải chôn sâu xuống 9 tầng đất đen, để cả cộng đồng không bị ô nhiễm mùi vị đảng. Nên nhớ đảng cộng sản chỉ mạnh khi hội tụ đủ 4 điều:
1, Khoá chặt mọi cánh cửa với thế giới bên ngoài.
2, Kiểm soát chặt chẽ mọi quyền tự do tối thiểu của con người
3, Nghiêm cấm sử dụng Internet
4, Cấm đoán mọi hoạt động kinh tế của cán bộ công nhân viên ...
Nay 4 điều ấy đều đã và đang bị loại bỏ thì chúng ta - những công dân Việt Nam còn tiếc rẻ gì mà không vùng lên đạp đổ căn nhà ma quái do cộng sản sáng lập?
Bão nổi lên rồi từ lòng người dân oan anh em chúng tôi, mọi con mắt của trời và cả 6 tỉ người trên khắp thế giới đang nhìn vào, chứng kiến những giờ phút trông đợi có một không hai trong Lịch sử Việt Nam. Cái thời đảng trị (các vua Hùng có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau...phá nước) sẽ qua đi trong năm định mệnh 2007. Thay vì hàng trăm, hàng triệu người dân oan Việt Nam phải len lét cúi đầu trong tiếng nấc, mắt lưng tròng lê chân bước đau thương, trên con đường khiếu kiện thăm thẳm mịt mù sẽ là sự vùng lên lật đổ Đảng, xử tội đảng như người dân Ru Ma Ni đã xử tội cặp vợ chồng Ceausescu. Chính chúng tôi, những người dân oan Việt Nam sẽ là ngòi nổ đầu tiên, bắt đầu từ ngày đặc biệt 9-12 này. Ngày mà tròn một năm trước, 60 người dân oan chúng tôi tập trung ở vườn hoa bị cướp bóc sạch sẽ từ manh quần tấm áo, phế liệu, mảnh bạt, chăn màn, gạo, tiền lên xe chở rác (5 tấn) của công ty môi trường đô thị đổ ra bãi rác thành phố, dưới sự chỉ đạo của công an thành phố, đứng đầu là bộ trưởng Lê Hồng Anh...
Từ đó đến nay, những mảnh đời cơ nhỡ chúng tôi liên tục bị xua đuổi, bắt bớ, đánh đập giam hãm, cho nên không còn cách nào khác, chúng tôi phải tìm đến với nhau, đến mái nhà chung của hội như cây phải có lá, như cá phải nhiều vây, như sông tìm về nguồn nước, để tạo thành sức mạnh hùng hậu của mình, cùng bà con anh em trong và ngoài nước, cùng các nhà dân chủ, thanh niên, trí thức nước nhà, vùng lên lật đổ chính thể cộng sản độc ác, gian manh, thối nát như người Ru Ma Ni xử tội cặp vợ chồng Ceausescu.
Xin nhắc lại tỉ mỉ cái chết này một lần nữa, để lũ chó săn của đảng có dịp sáng mắt ra (không ôm chân bọn lãnh đạo độc địa gian tham, không đàn áp đầy ải bà con dân oan chúng tôi, các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến thêm một lần nào nữa).
Đầu tháng 12/1989, chính Ceausescu đã bị quân đội của mình nổi dạy và lật đổ (làm thiệt mạng hơn 2000 người). Ngày 22/12/1989, hắn quyết định chạy trốn cùng vợ là Elena, nhưng vợ chồng hắn làm sao có thể chạy thoát khỏi tai mắt của nhân dân? Mọi nhất cử nhất động của cặp vợ chồng độc tài này đều bị toàn thể dân chúng theo dõi để kịp thời truy đuổi và bắt gọn. Khi bản án tử hình được ban ra, cả tiểu đoàn lính tranh giành nhau bắn. Hơn 300 tay súng cùng chĩa vào hai xúc thịt khổng lồ và nhất loạt nổ súng. Lập tức thân thể của cặp vợ chồng này bị băm nhỏ hơn cả đống thịt vụn... Vì sự thanh trừng "tàn bạo" này nên ngay sau khi chính phủ mới của Rumani thành lập, đã bị các chính quyền Tây phương lên án mạnh mẽ, nhưng trách làm sao được khi sự căm phẫn của toàn dân đã đến mức tột đỉnh? Rõ ràng chính quyền cách mạng Ru Ma Ni không thể lựa chọn cách hành xử nào khác là bắn chết hai kẻ tham lam độc tài này như những con chó ghẻ, bệnh hoạn. Khi ấy là giữa đêm đông giá lạnh, rạng ngày 25/12/1989.
Ngày tàn của đảng Cộng Sản Việt Nam chắc chắn sẽ diễn ra tương tự, thậm chí có thể khủng khiếp hơn nếu tập đoàn cộng sản cứ cố bám vào ngai vàng quyền lực, bỏ qua lợi ích của toàn dân tộc, dìm cơ đồ Việt Nam trong vũng lầy của sự nghèo đói, lạc hậu. Chỉ quan chức lãnh đạo mới giàu có ức vạn còn dân tình thì khốn đốn tha hương, và dân oan chúng tôi còn nghìn lần cay đắng hơn: Nghèo ba họ, khó ba đời. Tả tơi suốt kiếp làm người Việt Nam.
Vì vậy, hãy tiếp sức cho dân oan chúng tôi, thưa các bạn già trẻ, gần xa, trong hay ngoài nước... Là con dân nước Việt , chúng ta, ai cũng đã từng khóc thương mình, thương đời, thương cho dân tộc bị hoạ cộng sản nuốt chửng, 10 phần nay chỉ còn một phần thoi thóp, ọp ẹp, không sức sống... đặc biệt là những người dân oan Việt Nam như chúng tôi , Từ địa vị dân ngoan, luôn làm theo lệnh đảng. Người ở nhà thì thắt lưng buộc bụng, củ sắn củ khoai để dồn thóc lúa, lương thực cho bộ đội ăn no góp phần thắng pháp, Mỹ, theo khẩu hiệu: "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Người ra đi thì bỏ cả quá khứ (mồ mả cha ông) lẫn hiện tại (chí làm trai chẳng tiếc đời xanh) sẵn sàng chấp nhận cái chết về mình ( Xé mình ra cho tổ quốc quyết sinh ) vậy mà khi trở về chỉ là cảnh: Khoai khoai trộn cơm đã nhiều năm rồi, quê ta chẳng đổi thay gì. Đã thế mái nhà -cũng là tài sản có gía trị duy nhất trong cuộc đời chúng tôi, trên mảnh đất ông bà tổ tiên để lại cũng bị quan xã, quan huyện, quan tỉnh mượn chiêu bài giãn dân, xây trung tâm du lịch nọ kia để cướp đoạt, lấy 10 chỉ trả một, cướp 10 chỉ bù 2,3 v.v Biến chúng tôi từ địa vị dân ngoan thành dân oan. Chính điều 4 hiến pháp là 4 tấm dài của chiếc quan tài định mệnh mà đảng dùng để chôn dân tộc Việt Nam trong suốt 31 năm trời qua, 2 tấm còn lại là tà thuyết Mác lê, tư tưởng Hồ chí minh, bản thân dân oan chúng tôi, đã ở trong quan tài định mệnh còn bị đánh, trói, doạ dẫm...sống lay lắt không bằng con vật.
Vì vậy... dù bị cộng sản đánh vu hồi kỳ trận, bão đen ập xuống đời chúng tôi và gia đình bao nhiêu năm qua (từ thập kỷ 80) dù bị vặn vẹo tra tấn hết lần này lần khác, vào tù, ra khám, vì tội " Gây rối loạn trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, chống lại chính sách "đúng đắn, tốt đẹp" của đảng và nhà nước... Chúng tôi không nao núng tinh thần mà ngược lại luôn vững tin vào sức mạnh của đạo lý cha ông: Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh. Cái thời chân lý bặt tăm đã qua lâu rồi. Trong cả vũng ao tù hẹp hòi tưởng chừng luôn yên tĩnh, những người dân oan Việt Nam chúng tôi chính là những bọt nước của mạch sống từ đáy ao trỗi dạy. Trong cái bình diện của nền nếp và khốn khổ ở Việt Nam tưởng chừng mãi mãi bất di bất dịch, dân oan chúng tôi chính là những con người cựa quậy thoát ra ngoài vạch thẳng, ngoài mẫu mực tâm lý nô lệ tầm thường để tồn tại, để đấu tranh, khẳng định quyền làm người, quyền được sống trên chính mảnh đất của cha ông mình. Cả trăm, nghìn, triệu dân oan Việt Nam, từ nhà nông, công nhân, cựu chiến binh, kỹ sư , bác sĩ... Tất cả không vì nỗi sợ sệt vây hãm mà đánh mất tương lai lâu dài cho bao thế hệ kế tiếp sau này, cho chính quyền được làm người, được sống, được đòi lại mọi quyền lợi đã mất cho riêng mình...
Hãy tin tưởng vào chúng tôi, thưa các bạn, những người phụ nữ, nam giới, đang bước dần vào tuổi tri thiên mệnh, từ tân hôn đã nhuốm màu hoàng hôn, phải chịu bao thảm cảnh do cộng sản gây ra. Dùng cả bộ máy khổng lồ, vũ khí trang bị dùi cui, súng ống tận răng để đàn áp tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng chưa đủ còn đem xe tù, bắt cóc, tống tiễn dân oan chúng tôi vào tận trại giam ngoại thành cả 10 ngày trời trước và sau hội nghị Apec, cốt trưng ra chiếc váy ngủ sặc sỡ của đảng mà bất cứ ai là người Việt Nam cũng đều biết rằng bên trong đầy rận.
Không chỉ riêng hội nghị Apec mà tất cả các công việc lớn nhỏ của đảng và chính phủ, từ đại hội, quốc hội, tiếp các quan khách nước ngoài, Segame v.v...thì dân oan Việt Nam, dù trọ tại nhà trọ quanh khu vực Ngọc Hà, Quán Thánh, Thuỵ Khuê, hoặc vạ vật, lê lết trong lòng vườn hoa Mai Xuân Thưởng v.v đều bị "bão" quét lên "trung tâm bão" là đồn công an của phường Thuỵ Khuê để tra hỏi, đe nẹt cật vấn, hù doạ, rồi thả về quê, hoặc nhốt vào trại cai nghiện, cải tạo, các trung tâm lao động v.v ...Chính vì nòng nọc phải rỡn sóng với cá kình, dã tràng phải chịu bao nhiêu lớp sóng lừng ngoài biển nên không biết bao nhiêu số phận ngấm ngầm bị hại. Người bị xe đâm, người bị quẳng xuống sông, người tự thiêu, người treo cổ chết ngay gốc nhãn trước cửa phòng tiếp dân, người ốm đau, thương tích, tật nguyền suốt đời do bị đánh, người vì không có thuốc chữa mà đành nằm chờ chết, hoặc chết ngay trong nhà tù cộng sản vì không chịu nổi sự khắc nghiệt... Ra đi mà không đành nhắm mắt, phải để lại nỗi hận cho con cái tiếp tục "bản trường ca khiếu kiện" vì mất nhà, mất đất, mất mọi quyền sống sơ đẳng của con người.
Chính những những người bạn và tấm lòng của người anh, người chị, người em nơi Hải Ngoại sẽ giúp dân oan chúng tôi trỗi dạy, đứng thẳng làm người. Sức mạnh của mỗi người dân oan trong cả hội dân oan Việt Nam từ nay sẽ được nhân bản, lan rộng thành sức mạnh chung của cộng đồng, của dân tộc, đặc biệt là lớp trẻ. Trên con đường đấu tranh không khoan nhượng với công an và đảng cộng sản, để tìm lại quyền lợi cho mình, cũng là tự do dân chủ cho dân tộc, chúng tôi tình nguyện để lại dấu chân, nhành cây, vết thương và lời nhắn gửi cho những người đến sau, những người còn thập thò miệng lỗ...

Hãy chui ra khỏi lòng hang chật hẹp, để tiếp sức cho chúng tôi khỏi bị bao vây, cô lập, thưa bạn. Hãy bước đi những bước hào hùng mạnh mẽ của đời mình trên mặt đất gồ ghề sỏi đá, gai góc song phía trước sẽ nở đầy những bông hoa thắm. Chỉ cần gặp được dấu chân hay bất kỳ một tín hiệu tự do nào mà những người dân oan chúng tôi để lại, bạn sẽ biết rõ việc của mình, và lại tiếp tục để lại các dấu chân, nhành hoa, bánh mì bên đường, để người sau, sau nữa nhận rõ tín hiệu của tự do mà tìm đến, tạo thành đội ngũ trùng trùng điệp điệp các thành viên của hội, các nhà dân chủ, người bất đồng chính kiến... Khi một cá nhân được bảo vệ, thì sức mạnh tiềm tàng sẽ được nâng lên rất nhiều, dẫu không phải đứng trên vai của những người khổng lồ như bao nhiêu nhà thiên tài, bác học lỗi lạc khác, song ngoài sức mạnh của bản thân, mỗi người dân oan chúng tôi sẽ có thêm sức mạnh tổng hợp, sức mạnh của sự cộng hưởng. Chỉ cần có điểm tựa là bè bạn, bà con, anh em dân tộc Việt , thì chúng tôi- những người bị đảng cướp đoạt mọi quyền lợi, buộc phải đấu tranh - sẽ nâng bổng ngôi nhà ma quái bưng bít của đảng vứt xuống biển, như lời Ac -Si Met nói: Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng bổng cả trái đất. Ngày nào mà ngôi nhà tự do dân chủ được xây dựng, ngày ấy cộng đồng người Việt Nam trên khắp 4 biển, 5 châu 6 lục sẽ tìm về quây quần tụ hội sau 31 năm trời tang tóc. Thay vì một mối đau thương, một mối hận thù như lời thơ Nguyễn Chí Thiện than khóc cho dân tộc vào tháng 4-1975 sẽ là một mối yêu thương, ấm áp tình người của năm 2007. Những người con của Vua Hùng sẽ sống với nhau theo đúng đạo làm người, vực đạo lý dân tộc bị đảng nhốt từ núi cao, vực sâu, hang tối dạy, toả sáng khắp non sông, trong mỗi mái nhà, trên mỗi mái đầu trẻ thơ...Vì vậy hãy tiếp sức cho chúng tôi, hỡi bạn. Nếu mỗi một hòn than, ngọn lửa như chúng tôi được cả đồng bào Hải Ngoại gìn giữ, tiếp sức, lập hội bảo vệ, thì làm sao đảng có thể dập tắt được? Cái thời mù loà, tiếm quyền của đảng cộng sản đã qua rồi, thời này là thời của tin học, của công nghệ, của hội nhập và tri thức toàn cầu. Đảng có muốn "muôn năm" cũng không được, vì tự đảng đã lòi cái đuôi định hướng và bộ mặt độc tài là điều 4 hiến pháp, điều 31 Cp, điều 56 hiến pháp v.v rồi. Nếu đảng không tự giải tán khỏi ngôi vị quyền lực của mình, thì những ngày bình thường sẽ cháy lên, những người bình thường cũng cháy lên giải phóng ngọn lửa tù đày đã ngủ quên cả 31 năm trời trong gan ruột mình, và toàn thể nhân dân Việt Nam (đặc biệt là hội viên hội dân oan Việt Nam ) tất cả chúng tôi sẽ cùng các bạn vùng lên lật đổ chế độ độc tài phản động, đập chết các lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam như người dân Ru ma ni đã từng xử tử cặp vợ chồng Ceausescu. Không thể khác.
Ngày ấy, ngày ấy sẽ không xa, nếu chúng ta biết đoàn kết, biết đồng lòng, dù đảng cộng sản có cấu kết với nhau, với bao thế lực thù nghịch đen tối, như công an, bộ đội - những thành phần đã vô tình đi ngược lại lợi ích của dân tộc: "Trung với đảng hiếu với cha, người Việt nào cũng bị hành, nhũng tham nào cũng bỏ qua, kẻ thù nào cũng trốn tránh"...thì ngày ấy sẽ chỉ trong năm 2007 này thôi. Những chú gà của năm 2007 đang chuẩn bị gáy sáng rồi đấy. Ma quỷ nào cũng phải lùi vào bóng đêm trước khi ánh mặt trời soi dọi
Hãy tiếp sức cho chúng tôi, những người dân oan Việt Nam- một mảng đời đau thương, nạn nhân của chính thể cộng sản độc ác, xảo trá, gian dối, thối nát, thưa các bạn.
Hà Nội 9-12-2006
Thay mặt dân oan Việt Nam
Trần Khải Thanh Thuỷ
Viết cho dân oan
Trần Khải Thanh Thuỷ
Bà con hỡi, đừng ngồi trong bóng tối
Làng đã cụt đầu, đất đã mồ côi
Vì đảng kia cướp của, giết người
Dìm dân tộc đắm chìm trong tăm tối
Bà con ta như cây đời héo úa
Bao đường gân quằn quại xoắn trong lòng
Bao hương thơm bị đảng vùi chôn
Bao oan hồn phải gào lên nức nở
Đứng trước đảng, bà con ơi: đoàn kết
Ích gì đâu một tiếng khóc than
Dân chủ bây giờ là đích của Việt Nam
Phần tốt đẹp phải kết tinh thành lửa
Giải thoát lương tâm do đảng cầm tù
Chúng khoét ruột, moi gan ngân quỹ
Còn nhai nhải tình thương qua mặt nạ cha già
Bao người của chúng ta bị công an đàn áp
Ngày nối ngày lê bước điêu linh
Mai Xuân Thưởng ơi, ông hãy hiện lên nào
Vặn cổ, moi gan lũ cộng nô khát máu
Đánh, cướp đồng bào không chút xót đau
Đầy ải trăm dân khổ cực, khốn cùng
Xưa ông mất vì vùng lên đánh Pháp
Nay oan hồn hãy vì triệu dân oan
Họ trót sinh vào thế kỷ mù loà
Nơi Đảng quỷ thẳng tay cướp phá
Đảng cộng sản Việt Nam loã lồ tàn ác
Nhân cách cởi truồng, khoe của báu xa hoa
Nào vàng, đô, trang trại, nhà lầu
Trải khắp trời tây: Pháp, Anh, Mỹ, Đức
Dùng các từ hoa mỹ để nhân danh
Bà con hỡi, đừng ngồi trong bóng tối
Phải vùng lên lật đổ đảng đê hèn
Trong oan khốc, ta tìm ra chân lý
Có linh hồn Mai Xuân Thưởng [*] kề bên
Bà con hỡi, bốn phương đang nhìn tới
Chờ lịch sử Việt Nam hiện hữu những trang vàng
Cho cộng sản vào quan tài, đêm tối
Cho dân ta vùng thoát kiếp tôi đòi
Bà con hỡi, nhìn Đảng run lẩy bẩy
Cả bè lũ gian tham nem nép cúi đầu
Vành móng ngựa, là nơi đảng quỳ gối
Cho dân đen hỏi tội Đảng một ngày
Bà con hỡi, hãy vững tin điều ấy
Ngày ấy không xa, ngày ấy cận kề...
Hà Nội 24-11-2006
Trần Khải Thanh Thuỷ
Ghi chú:
[*] Mai Xuân Thưởng, sinh 1860, quê ở Bình Định, 26 tuổi đỗ cử nhân, cũng là năm ông rời bỏ quan trường, bổng lộc đứng lên kêu gọi thanh niên đánh pháp, cứu nước, cứu nhà, và bị giặc pháp chém chưa đầy một năm sau đó. Ông mất khi tròn 27 tuổi (1887). Hiện tên ông được đặt cho một đường phố của thủ đô, là nơi đảng đặt trụ sở tiếp dân, vì thế là nơi bà con dân oan cả nước hàng ngày lũ lượt kéo tới khiếu kiện và bị công an đảng đàn áp rất dã man.
Bà con hỡi, đừng ngồi trong bóng tối
Làng đã cụt đầu, đất đã mồ côi
Vì đảng kia cướp của, giết người
Dìm dân tộc đắm chìm trong tăm tối
Bà con ta như cây đời héo úa
Bao đường gân quằn quại xoắn trong lòng
Bao hương thơm bị đảng vùi chôn
Bao oan hồn phải gào lên nức nở
Đứng trước đảng, bà con ơi: đoàn kết
Ích gì đâu một tiếng khóc than
Dân chủ bây giờ là đích của Việt Nam
Phần tốt đẹp phải kết tinh thành lửa
Giải thoát lương tâm do đảng cầm tù
Chúng khoét ruột, moi gan ngân quỹ
Còn nhai nhải tình thương qua mặt nạ cha già
Bao người của chúng ta bị công an đàn áp
Ngày nối ngày lê bước điêu linh
Mai Xuân Thưởng ơi, ông hãy hiện lên nào
Vặn cổ, moi gan lũ cộng nô khát máu
Đánh, cướp đồng bào không chút xót đau
Đầy ải trăm dân khổ cực, khốn cùng
Xưa ông mất vì vùng lên đánh Pháp
Nay oan hồn hãy vì triệu dân oan
Họ trót sinh vào thế kỷ mù loà
Nơi Đảng quỷ thẳng tay cướp phá
Đảng cộng sản Việt Nam loã lồ tàn ác
Nhân cách cởi truồng, khoe của báu xa hoa
Nào vàng, đô, trang trại, nhà lầu
Trải khắp trời tây: Pháp, Anh, Mỹ, Đức
Dùng các từ hoa mỹ để nhân danh
Bà con hỡi, đừng ngồi trong bóng tối
Phải vùng lên lật đổ đảng đê hèn
Trong oan khốc, ta tìm ra chân lý
Có linh hồn Mai Xuân Thưởng [*] kề bên
Bà con hỡi, bốn phương đang nhìn tới
Chờ lịch sử Việt Nam hiện hữu những trang vàng
Cho cộng sản vào quan tài, đêm tối
Cho dân ta vùng thoát kiếp tôi đòi
Bà con hỡi, nhìn Đảng run lẩy bẩy
Cả bè lũ gian tham nem nép cúi đầu
Vành móng ngựa, là nơi đảng quỳ gối
Cho dân đen hỏi tội Đảng một ngày
Bà con hỡi, hãy vững tin điều ấy
Ngày ấy không xa, ngày ấy cận kề...
Hà Nội 24-11-2006
Trần Khải Thanh Thuỷ
Ghi chú:
[*] Mai Xuân Thưởng, sinh 1860, quê ở Bình Định, 26 tuổi đỗ cử nhân, cũng là năm ông rời bỏ quan trường, bổng lộc đứng lên kêu gọi thanh niên đánh pháp, cứu nước, cứu nhà, và bị giặc pháp chém chưa đầy một năm sau đó. Ông mất khi tròn 27 tuổi (1887). Hiện tên ông được đặt cho một đường phố của thủ đô, là nơi đảng đặt trụ sở tiếp dân, vì thế là nơi bà con dân oan cả nước hàng ngày lũ lượt kéo tới khiếu kiện và bị công an đảng đàn áp rất dã man.
Subscribe to:
Posts (Atom)